30.3.12

Đọc Quẩn quanh trong tổ


Đọc để biết người trẻ lang bạt ngày nay nghĩ gì.
Tôi dùng từ lang bạt, vì đúng là đời Phan An lang bạt, di chuyển và rối rắm, xếp chéo nghiêng tréo que vào nhau (nhìn cái bìa thì suy ra vậy, "hihi"). Tôi cũng nghĩ "chính là đời Phan An", vì anh vẽ minh họa đẹp, viết tốt mà lại đang "làm mướn" bên lĩnh vực lập trình. Vậy có thể, cái lịch sử xê dịch từ Ngoại thương sang Kiến trúc, rồi bỏ nhảy để học lập trình bên Aptech của "anh" trong truyện, chắc là "anh" ngoài đời. (Để tươm hơn làm ơn tra Gúc gồ, "hihi"). Có lẽ học nhiều thế, cho nên anh viết kiểu của người học nhiều, nghe nhiều, chơi nhiều, sống nhiều, buồn nhiều. Hay chí ít, không buồn nhiều thì cũng nghĩ nhiều, và trăn trở lắm lắm.
Đọc Quẩn quanh trong tổ sẽ dễ liên tưởng đến SBC là săn bắt chuột. Cũng giọng văn châm chích như nọc ong, cái lưỡi dẻo quẹo liếng thoắng liên hồi mà moi móc, mà chọt chỉa, cũng những đả kích chua cay nhưng không hề thô, tục. Mà có tục một tẹo cũng là cái tục vừa vỗ tay đánh đét, vừa rung đùi mà cười hả hả đầy khí phách. Có thể chấp nhận được. "Hihi".
Viết về mấy vấn đề xã hội nóng không thiếu người viết, báo có, blog có, văn chương có. Nhưng Phan An viết có kiểu riêng. Nói như ai đó mà tui quên mất "rầu" (giọng Bình Định), thì Phan An không hẳn là thích triển làm mấy thứ rác rưởi xú uế và ô tạp. Đọc những dòng trong trang viết của anh, ngoài mấy thứ kiểu "xin thề luôn mu tôi có lông", thì không thiếu những xót xa ngược, về lớp người có thân phận nghèo khổ, tứ cô vô thân trong xã hội. Đó cũng là kiểu viết lộ rõ những bất lực, những cam chịu một cách thẳng thắn chứ không đạo đức giả dạy đời "ăn khoai lang xắt lát mà nói chuyện Các Mác - Lê Nin. Đó là giọng điệu thành thực, phô ra hết, nói ra hết như rút cả tâm can mà cứ giống bông phèn, đùa bỡn.
Riêng một điều tôi không thích ở Phan An, đó là giọng kẻ cả. Cái giọng "người trên" đó, nếu xét qua SBC là săn bắt chuột thì hoàn toàn không có. Hồ Anh Thái có phán xét, nhưng không hề lộ mặt. Còn Phan An thì chỉ tận tay, day tận trán mà mỉa mai cay đắng. Có lẽ vì thế nên sẽ nhiều người không thích Phan An (lắm). Riêng tôi, đọc chơi cho biết cũng chẳng tổn hại đến ông thủ tướng bà bộ trưởng nào. Vậy nên đọc thôi

29.3.12

Hàng rào

Con người, tốt hơn hết nên biết những giới hạn của mình. Chẳng hạn, nếu bạn chỉ nhảy xa được hai mét, thì đừng tưởng mình nhảy được năm mét. Điều đó, một mặt có thể khiến bạn thiệt mạng, mặt khác sẽ khiến bạn đổ vỡ, khi niềm tin đó không còn. 
Những giới hạn của chúng ta cũng giống như những bức tường của căn phòng. Có điều, với một số người, đó là nhà tù, với số khác lại là tổ ấm. Đối với loại người thứ nhất, việc không thoát ra khỏi những giới hạn khiến họ bất mãn, khái niệm niềm tin vào bản thân không còn tồn tại, sự tự do không còn tồn tại. Còn loại người thứ hai, ngược lại, xem giới hạn của mình là hồi chuông "gọi hồn", đưa tâm trí và sức lực trở về bản thể, sự an toàn. Khi anh bước tới vực thẳm, anh nhảy qua, hay quay lại. Khi anh đau khổ, anh chống chọi hay khóc ròng buông xuôi, và để mọi thứ tự qua đi. Tôi chẳng biết.
Khó có thể nói ai sai, ai đúng. Thậm chí, ai dũng cảm hơn, cũng là một điều khó xét tới. Khi ai đó cảm nhận được giới hạn của mình, đôi khi là sự hèn yếu, anh ta phải làm sao. Chấp nhận nó, chấp nhận cái bản năng hướng tới sự an toàn, và để cái tôi đứng giữa giằng xé ? Ai dám bảo đó không phải là dũng cảm, dũng cảm khi vượt qua, dũng cảm cũng là dừng lại và chịu nhìn sang đầy tiếc nuối.
Con người, tốt hơn hết nên biết tới những giới hạn của mình. Tôi nên biết mình sắp chết, tôi nên biết mình kém thông mình, nghèo hèn và thất bại, nếu thực sự tôi là vậy. Điều đó không những không đe dọa được tôi, mà còn làm cho tôi cảm thấy an toàn. Tôi sẽ không phải hoang mang vì khoảng không trống rỗng và vô hình ngoài kia, phía xa của bức hàng rào, giới hạn. Ngược lại, sự tự do đôi khi khiến con người ta vô phương hướng, trôi dạt, bập bềnh, từ nơi này sang nơi khác một cách vô định.
Có một ví dụ triết học điển hình của Plato nói về sự nhận thức. Một nhóm người bị giam dưới hang đá, họ quay mặt vào tường và chỉ nhìn thấy những bóng người chuyển động trước mặt. Thế giới đối với họ, chính là những chiếc bóng. Một ngày kia, một người thoát được và rời hang. Anh ta nhìn ngắm thế giới và quay lại kể cho cả nhóm người. Nhưng không ai chấp nhận thế giới của anh ta cả. Với họ, thế giới chỉ là những chiếc bóng. Và họ đòi giết kẻ ngoại đạo thông thái kia. Tất nhiên, con người hiểu biết ấy đã mở rộng biên giới của mình, và tự do hơn nhóm người kia, nhưng liệu điều đó có ý nghĩa gì. Nếu anh ta sống trong hang đá suốt đời, hẳn anh ta đã không phải băn khoăn nhiều về điều đó, khi giới hạn của anh ta được nới rộng.
Tất nhiên, sẽ chẳng hay ho gì khi cứ cù nhầy mãi những yếu kém và đớn hèn của bản thân. Nhưng những bức hàng rào của ta, trong tâm trí, luôn nhắc nhở ta một điều rằng. Ta chỉ là những con người.

27.3.12

Ngày 27 tháng 3 năm 2012

Trong cuốn sách tôi đang đọc, Gỗ Mun của Ryszard Kapuscinsky (có thêm dấu "phẩy" trên đầu kí tự "s" và "n" của chữ Kapuscinsky) có một quan niệm rất hay về thời gian (của người châu Phi) như sau:
Người châu Âu và người châu Phi có khái niệm hoàn toàn không giống nhau về thời gian, họ nhìn nhận nó khác nhau, có mối liên hệ khác nhau với nó. Trong suy nghĩ của người châu Âu, thời gian tồn tại ngoài con người, tồn tại một cách khách quan, dường như ở bên ngoài chúng ta, có các đặc điểm tuyến tính và đo lường được. Theo Newton, thời gian là tuyệt đối: "Thời gian toán học, thực hữu, tuyệt đối trôi qua chính nó và bằng bản chất của nó, đều đặn, không phụ thuộc vào bất cứ sự vật bên ngoài nào". Người châu Âu cảm thấy mình là nô lệ của thời gian, anh ta phụ thuộc vào nó, bị nó cai trị. Để tồn tại và hoạt động, anh ta phải tuân theo những nguyên tắc và luật lệ cứng nhắc của nó. Anh ta phải tuân thủ các kì hạn, ngày tháng và giờ giấc. Anh ta di chuyển trong sự khắc khe của thời gian và không thể tồn tại ngoài chúng. Chúng áp đặt cho anh ta các kỉ luật nghiêm ngặt, những đòi hỏi và tiêu chuẩn của mình. Giữa con người và thời gian tồn tại mối xung đột không thể giải quyết, luôn kết thúc bằng thảm bại của con người -  thời gian hủy diệt con người.
Những người bản xứ, người châu Phi hiểu thời gian theo cách khác. Đối với họ, thời gian là một khái niệm lỏng lẻo, rộng mở, mềm dẻo và chủ quan hơn nhiều. Là con người có ảnh hưởng đến sự hình thành của thời gian, đến dòng chảy và nhịp điệu của nó (tất nhiên con người hành động với sự đồng ý của tổ tiên và thánh thần). Thời gian thậm chí còn là thứ mà con người có thể tạo ra, ví dụ sự tồn tại của thời gian được biểu hiện qua một sự kiện, mà sự kiện đó có xảy ra hay không là phụ thuộc vào con người. Nếu hai đạo quân không tham chiến thì trận đánh sẽ không xảy ra (nghĩa là thời gian sẽ không thể hiện sự có mặt của mình, sẽ không tồn tại).
Thời gian xuất hiện như là kết quả hành động của chúng ta, và biến mất khi ta sao lãng  hoặc không thực hiện nó. Đó là thứ chất liệu dưới ảnh hưởng của chúng ta có thể luôn luôn sống dậy, nhưng sẽ rơi vào trạng thái ngủ hay thậm chí là trạng thái không tồn tại nếu ta không truyền sinh lực của ta cho nó. Thời gian là một thực thể thụ động, bổ trợ, và quan trọng nhất - phụ thuộc vào con người.
Hoàn toàn trái ngược với tư duy châu Âu.  

25.3.12

Máu lạnh những ngã tư

Truman Capote xuất bản Máu lạnh năm 1965 và trở nên nổi tiếng với tác phẩm này. Trần Dần hoàn thành Những ngã tư và những cột đèn sau đó một năm, năm 1966. Cả hai cuốn sách đều được viết lại từ những câu chuyện có thật. Nếu như xem Máu lạnh là một đỉnh cao của văn chương phi hư cấu của Mĩ, thì tác phẩm kia của Trần Dần, tôi nghĩ cũng phải ở một vị thế tương tự.
Tôi thấy hai tác phẩm có nhiều nét rất giống nhau. Không chỉ ở khía cạnh sự thật, cả hai đều có một kết cấu kiểu phi tuyến tính về thời gian. Câu chuyện không được kể theo kiểu trình tự, mà bay nhảy từ khoảng thời gian này qua khoảng thời gian khác, từ nhân vật này sang nhân vật khác, qua các hồi tưởng và những mảnh kí ức rời rạc. Thứ nữa, cả hai cuốn sách đều viết về những con người bị tội lỗi, sự yếu hèn và tự ti ám ảnh. Nếu như Perry và Dick tự do di chuyển nỗi sợ hãi tội lỗi của mình trong một không gian rộng lớn, thì Dưỡng của Trần Dần lại di chuyển sự tự ti, trong chính tâm hồn và khối óc của mình. Xét về khía cạnh nào đó, Dưỡng có vẻ "khỏe" hơn vì tội lỗi của anh không đáng sợ bằng (dĩ nhiên chẳng thể bằng tội sát nhân trong Máu Lạnh), nhưng nếu nhìn kĩ, chưa biết sự ám ảnh của ai nặng nề hơn, Dưỡng hay Dick và Perry.
Nếu như để tâm so sánh độ phức tạp giữa hai tác phẩm, có lẽ Những ngã tư và những cột đèn của Trần Dần không bằng. Tôi nghĩ không bằng, vì bản thân Dưỡng đã là một người bình thường rồi, không giống như hai kẻ sát nhân kia. Nhưng cái phức tạp của Dưỡng là cái phức tạp của "chúng ta", tức, những người bình thường. Người đọc sẽ cảm thấy mình, khi, phải lựa chọn giữa đúng và sai, giữa dối trá và thật thà, nghi ngờ và tin tưởng, giống như Dưỡng vậy. Và khi đi đến hết cuốn sách, bản thân tôi cũng không tin là lựa chọn của Dưỡng là đúng. Có điều, quan trọng là anh đã lựa chọn, đã đi đúng đường nơi "những ngã tư" dù có đôi khi "những cột đèn" tù mù kia không sáng.
Cá nhân tôi thấy thích cả hai tác phẩm, một của Truman Capote, một của Trần Dần. Vì một lẽ đọc chúng khá là hấp dẫn. Cả hai cuốn sách đều thực tế, dồn dập, kích thích sự tò mò nhưng vẫn xen kẽ những đoạn, những câu khiến bản thân tôi phải suy nghĩ. Riêng Những ngã tư và những cột đèn, tôi nghĩ mình không hiểu được toàn bộ, nhưng một tí chút triết lý thì có nắm được, nghĩ cũng vui.
Mà tôi nói chơi đấy thôi, vì thực chất đem hai tác phẩm này so sánh nhau thế này rất chi là khập khiễng. Mong đừng ai cười nhé.


22.3.12

Về sách

  1. Tui đọc trên mạng, thấy ở nước khác, mọi người đọc sách nhiều lắm. Mà không phải đọc ở nhà hay ở trường không thôi, mà còn đọc ở trạm chờ xe buýt, ga tàu điện ngầm, ở bưu điện hay công viên... Nói chung là tranh thủ được lúc nào thì đọc lúc đó. Tui nghĩ có thể họ thích đọc sách hơn bên này, tức là chỗ tui - nơi khi tui cầm quyển sách lên thì có ối bạn nhìn tui như sinh vật lạ - kiểu như tui muốn biến tui trở nên "học thức hóa rởm đời" vậy. Nhưng khi xem tranh ảnh, phim phiếc, tui thấy sách của họ, thứ để họ đọc tại mấy chỗ "tranh thủ" đó, không dày như ở ta, và đảm bảo cũng không nặng như ở ta. Sách dạng bỏ túi rất phổ biến. Như hồi xưa tui có một bộ Thép đã tôi thế đấy hai tập khổ nhỏ, mà tui nghĩ là dạng bỏ túi, cầm theo rất tiện lợi, đọc chỗ nào cũng được. Bây giờ tui thấy bộ đó toàn gom lại thành một tập, in giấy tốt, bìa cừng, ối cha là nặng, ai mà cầm theo nối. Mà có cầm theo nổi, lên xe buýt chẳng hạn thì chắc dùng để choảng mấy bạn móc túi với sàm sỡ nữ nhi thì tiện hơn là đọc. Tui nghĩ mấy bộ tiểu thuyết hay ho mà có dạng bỏ túi khổ nhỏ, dày một chút cũng được, để cầm theo thì rất là tiện. Ôm sách to, nhiều khi ngại!
  2. Tui mới mua một quyển Phải trái đúng sai của bác Trẻ, đã chiết khấu ba mươi phần trăm rồi mà vẫn cứ chan chát đắt. Theo tui là đắt hơn nhiều so với Nhã Nam. Cơ mà mấy ngày đầu, tui thấy giấy xấu xấu, đen đen, bẩn bẩn thế nào ấy. Không như sách của Nhã Nam làm, toàn giấy trắng mà rất đẹp. Nên túm lại là hơi chửi đểu bác Trẻ cho bõ tức, cái tội sách đắt mà in giấy xấu. Nhưng tui chả chửi được lâu, sách bác Trẻ tuy in giấy không tốt bằng bên Nhã Nam, nhưng được cái nhờ thế nên nhẹ hẳn, nằm đọc hay ngồi đọc đỡ mỏi người, ối cha là tiện. Từ đó tui nghĩ, sách không cần đẹp lắm đâu, đẹp thì chỉ tổ nặng, chả được ích gì, trưng trong tủ thì cần bìa đẹp thôi, còn bên trong ai cần quan tâm chớ.
  3. Bữa trước tui mua Ai và Ki ở xứ sở những con số tàng hìnhNhã Nam thư quán để tặng nhỏ em ở quê. Bữa sau thì có tác giả kí tặng trên Hội sách làm tui cứ tiếc hùi hụi. Nhưng tui cũng may, tui mà chần chừ để chờ mua ở hội sách thì móm rồi, vì bữa đó tui để quên một quyển Gỗ mun mới mua cũng trên hội sách. Nên giờ tui phải ăn mì tiếp để mua lại đây.

16.3.12

Xem Catch Me If You Can


Con người tất nhiên luôn muốn tự do. Còn gì quí hơn khi đôi chân được bước trên mặt đất, mà không phải chịu ràng buộc vào bất cứ điều gì. Nhưng sự tự do ấy có phải là tất cả. Ta phải chăng khát khao nồng nàn một nơi nào đó để thuộc về, một tâm hồn để kiểm soát lấy trái tim ta, không để nó phải tự do bay nhảy vô hạn định. Khi Frank tinh ranh khẩn khoản cầu xin bố hãy ngăn mình lại, để anh có thể thoát khỏi chính mình, thoát khỏi những hành động mà anh không hẳn thích thú. Bố anh đã không làm gì, ông không đủ sức, hay ông không muốn ngăn cản. Dù là gì đi nữa, ông đã từ chối một trách nhiệm quan trọng có thể thay đổi cuộc đời con mình: sự ràng buộc.

Tất cả chúng ta, xét về mặt nào đó không thể bấu víu vào điều gì trong cuộc đời. Ta sớm hay muộn thì cũng nhận ra điều đó. Có điều, cảm nhận ấy là khác nhau giữa lúc ta mười sáu so với lúc ta bốn mươi. Frank khi đó mười sáu, bố mẹ li hôn, và anh dần cảm thấy sự tồn tại về mặt tinh thần của mình bị đe dọa. Anh sợ phải tan biến trong mắt họ, trong trái tim và tâm hồn ngày một già cỗi bởi những toan tính và thèm muốn đời thường. Bố vướng vào những kiện tụng phức tạp, mẹ cưới người khác vì những vật chất của người chồng cũ không còn như xưa. Frank nhạy cảm và thông minh biết làm gì được ngoại chuyện bỏ đi, và, hóa thân vào những con người khác, những nhân vật không tưởng trong một vở kịch lớn, cuộc đời. Toàn bộ phim là một sự rượt giữa Carl - nhân viên cảnh sát đầy kinh nghiệm và Frank - kẻ lừa đảo tinh ranh nhưng non nớt, đó cũng chính là hành trình đi tìm nơi chứa đựng tâm hồn của chính Frank lang bạc. Từ phi trường, bệnh viện, đến tòa án, ngân hàng, cùng với vỏ ngoài giả tạo, Frank hóa thân vào những con người khác nhau và luôn luôn thành công. Nhưng Frank chẳng còn gì, còn gì khi cứ mỗi giáng sinh, anh lại phải gọi điện cho Carl, kẻ thù của mình vì không biết nói chuyện cùng ai. Frank trên hành trình dài của mình, đã nhận ra một điều, anh chẳng thuộc về ai cả, chẳng ai trông đợi anh về, chẳng mái nhà và hoài niệm tốt đẹp, anh có gì ngoài sự chạy trốn trong vô vọng Carl và chạy trốn chính bản thân mình.

Cuộc tìm kiếm con người mình với những phức tạp và lôi cuốn không chỉ đến từ Frank. Carl cũng tham dự một phần lớn vào đó cùng với sự điềm tĩnh, và cả lòng nhân đạo. Nhân đạo vì chính Carl, một con người buồn tẻ và có vẻ khô khan lại nhận ra được nỗi cô đơn của Frank trong những đêm giáng sinh, và từ đó bắt đầu cuộc rượt đuổi. Nhân đạo vì anh đã theo đuổi bốn năm để Frank có được cuộc sống bình thường khỏi nhà tù. Nhân đạo vì đã giúp Frank lấy lại được niềm tin khi dám chấp nhận sự mất mát trong cuộc đời, vì bản thân Carl cũng chịu nhiều mất mát. Và hơn hết là sự chân thành từ chính bản thân anh.

Không có những pha rượt đuổi gay cấn hay kĩ xảo mạnh mẽ. Nhưng Catch me If You Can tạo nên một công thức quyến rũ của sự thông minh và khía cạnh phức tạp trong tâm trí con người, cũng như sự hướng thiện và khát khao hạnh phúc. Bộ phim như một nốt nhỏ ngân vang trung thực và chân thành của cuộc đời đầy những trắc trở, mất mát. Và tất nhiên, sẽ còn rất nhiều điều có thể bàn luận về nó, nhưng tóm lại, sẽ đáng để bạn dành ra 140 phút của ngày nghỉ cuối tuần để thưởng thức: Catch Me If You Can.

14.3.12

Ngày 14 tháng 3 năm 2012

Tôi đang đọc Zarathustra đã nói như thế của Friedrich Nietzsche. Trong đó có một số đoạn rất đúng ý của tôi. Tất nhiên, nếu chỉ xét những dòng này không thôi thì sẽ thấy tư tưởng Nietzche có vẻ kệch cỡm và phân biệt, thậm chí phiến diện. Nhưng khổ nỗi, tôi chỉ là một người đọc bình thường, nên đành tìm chút thú vị nơi những con chữ giản đơn, và bỏ qua hầu hết những thứ mang tính phổ quát khác. Chấp nhận vậy.
"Nơi người đàn bà, tất cả đều là ẩn ngữ: nhưng ẩn ngữ bí mật ấy có một lời giải đáp: sự hoài thai.
Đàn ông là một phương tiện cho đàn bà: mục tiêu đàn bà  nhắm tới luôn luôn là đứa con. Nhưng đàn bà là cái gì đối với đàn ông?
Người mang dòng máu đàn ông đích thực có hai khát vọng: sự nguy hiểm và trò chơi. Chính vì thế hắn thèm muốn người đàn bà như một món đồ chơi nguy hiểm nhất.
Đàn ông nuôi dưỡng cho chiến chinh, và đàn bà, cho sự giải trí của chiến sĩ; mọi điều khác đều là điên rồ, ngu xuẩn.
...
Mọi người đàn ông xứng với tên gọi đều ẩn giấu trong hắn một đứa bé muốn chơi đùa. Nào người đàn bà, các ngươi hãy cố khám phá ra đứa trẻ nơi người đàn ông!
...
Người đàn ông phải kinh sợ người đàn bà khi nàng thù hận: bởi vì tận thâm tâm, đàn ông chỉ ác độc, nhưng tận thâm tâm, đàn bà là xấu xa.
...
Người đàn bà phải vâng phục và phải tìm thấu một chiều sâu cho bề mặt cạn cợt của nàng. Tâm hồn người đàn bà là một bề mặt cạn cợt xao động nhốn nháo giông bão ở bên trên một đáy trũng.
Nhưng tâm hồn của người đàn ông thì sâu thẳm, làn sóng  của tâm hồn ấy gầm thét trong những chiếc hang ngầm dưới đất, người đàn bà cảm nhận được sức mạnh ấy, nhưng không hiểu được nó."

13.3.12

Xem The Prestige


Tôi rất ghét khi viết về những bộ phim đã cũ. Lại càng ghét hơn khi nó nổi tiếng và được đánh giá cao. Bởi chẳng gì tôi, có cả khối người trên trái đất đã viết, mổ xẻ, phân tích... bình luận những bộ phim kiểu thế đến nhuyễn bấy ra rồi. Nhưng tôi thực sự thích bộ phim này. Không hẳn vì số điểm 8.4 hay Top 250 trên IMDB, mặc dù khi xem, tôi cũng đã cân nhắc đến chúng. Tôi thích, đơn giản, vì nó không quá khó hiểu, nhưng cũng không quá hời hợt. Kiểu phim đó, khẩu vị đó rất hợp với một kẻ bình dân là tôi.

Chuyện phim xoay quanh cuộc đối đầu giữa hai nhà ảo thuật tài năng: Robert Angier và Alfred Borden. Trong một lần biểu diễn, Julia - người tình của Angier bị tai nạn và chết. Angier và Borden từng là bạn bè giờ quay lại đối nghịch nhau và xem nhau như kẻ thù. Do nghi ngờ chính vì Borden mà Julia thiệt mạng, Angier trả đũa bằng cách phá hoại những buổi biểu diễn của Borden nhằm hạ uy tín anh. Borden cũng không thua kém, đáp trả bằng những hành động hèn hạ. Họ liên tiếp gây tổn thương cho nhau cho đến khi Borden tạo ra một phần biểu diễn làm Angier chú ý. Anh quyết tâm khám phá ra bí quyết của Borden và bằng mọi cách đánh cắp được sổ ghi chép của đối thủ. Từ đó mọi chuyện bắt đầu...

Tôi sẽ không kể nữa, vì ai xem rồi chắc đã biết, mà chưa xem thì tôi lại càng không nên kể trước. Tôi sẽ nói vì sao mình thích phim này.

Angier là một phần nào đó trong tôi. Đó là phần kiêu hãnh, ham hiểu biết, tò mò và phóng túng. Đó từng là một con người mà tôi luôn muốn hướng tới. Con người đó biết chấp nhận trả giả, biết hứng chịu nỗi cô đơn và giằn vặt. Angier không đơn thuần là một kẻ tham lam, hoặc nếu là một kẻ tham lam, hẳn không thể nào dung tục và xấu xa đến mức bỉ ổi. Hơn thế, Angier hướng tới chân lí, ngày càng cao, ham muốn tột độ bóc trần những bí mật, những ẩn giấu bên trong và bên ngoài của Borden. Angier không chịu thua đối thủ của mình bao nhiêu thì lại càng không thỏa hiệp với bản thân mình bấy nhiêu. Con người anh bộc lộ sự tàn nhẫn, cả quyết và nhẫn nại đáng sợ.

Mặc dù bị bủa vây bởi lòng tham hèn mọn. Khao khát kiếm tìm chân lí của Angier là điều gì đó khiến tôi không khỏi xót xa. Xót xa ngay cả với hành động nhẫn tâm "giết đi chính mình" cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của anh. Hi sinh tất cả, chịu để bàn tay mình nhuốn máu để vượt lên trên sự tầm thường, chịu đớn đau để biết rằng mình đã chiến thắng. Tôi khâm phục tất cả những điều đó, mặc ai nói gì.

Khác với Angier, Borden có cuộc sống bình lặng và ít hào nhoáng hơn. Nhưng giống với Angier, anh cũng kiếm tìm những điều vĩ đại. Borden biết được những giới hạn của mình, và chôn giấu nó trong sự bí mật. Borden không cố kiếm tìm sự kì diệu bên ngoài, mà là chính ở bản thân mình. Anh coi cuộc đời cùng giống như một trò ảo giác, càng giữ nhiều bí mật, và giữ nó càng lâu, anh càng thành công gấp bội. Và anh đã đóng đạt một trò ảo giác trong suốt cuộc đời (cùng với người anh em sinh đôi của mình), một ảo giác vĩ đại, bền bỉ và ngoạn mục.

Và hai con người đó, cùng một mục đích nhưng khác con đường gặp nhau, trong sự đố kị, ghen ghét, trong khao khát chứng tỏ bản thân và kiếm tìm chiến thắng. Nhưng cuối cùng thì ai đã thắng, vở kịch hạ màn với cái đầu ngẩng cao của ai. Chả ai cả, họ đều chết chìm trong ảo vọng, và đến bao giờ mới nhận ra đó chỉ là những ảo vọng. Cuộc đời và những kiếm tìm cũng giống như một ảo giác được tạo ra, gồm ba phần rõ rệt, nhưng phần khó khăn nhất, linh hồn của màn trình diễn là "the prestige", nghĩa là sự xuất hiện lại, sự khẳng định tồn tại mới là cốt yếu. Những huy hoàng trong "the turn" sẽ chẳng còn vĩ đại, sự biến đổi chẳng còn là điều huyền diệu khi chúng ta không tồn tại, ít ra là trong mắt mọi người hay trong chính bản thân mình. Tất nhiên là còn nhiều điều phức tạp hơn, nhưng có phải đó chính là một trong những điều mà bộ phim muốn hướng tới.

11.3.12

Cậu tôi

Ông bà ngoại tôi có bốn người con trai. Nghe má tôi bảo, ngày xưa cậu Dư tôi thông minh nhất, nhưng không học lên đến đại học, bỏ dở, giờ thì chạy xe và phụ mợ tôi bán tạp hóa. Cậu Sáu tôi cũng giống cậu Dư. Nhưng giờ cậu sửa xe máy, và có một cậu con trai nhưng không cho xa nhà. Cậu bảo, học cho cố không kiếm được bao nhiêu tiền, chi bằng ở nhà sửa xe, nhà cửa đó, rộng rãi, chẳng phải lo ăn lo uống lại không phải xa cha xa mẹ. Cậu Tám tôi thì học hành đàng hoàng, nhưng đang làm ở kho bạc của tỉnh thì đùng một cái, chuyển vào Sài Gòn buôn bán đất đai. Nhưng cậu đi thì còn có thể hiểu, trẻ, trai tráng mà cứ gò bó trong mớ công việc văn phòng nhì nhà nhì nhằng, chi bằng vút ra ngoài bay nhảy, biết đâu lại kiếm được mánh nào làm giàu. Đó là tôi nghĩ thế chứ không phải cậu mợ nói. Nhưng tôi nghĩ mãi thì vẫn không hiểu được cậu Mười nhà tôi.

Cậu Mười nhà tôi tướng bặm trợn, con của cậu mới học lớp chín mà cao hơn tôi cả cái đầu, nó mà uýnh tôi thì bố tôi cũng phải chạy mất dép chứ đừng nói là tôi. Cậu mợ làm ăn ngoài Qui Nhơn cũng được lắm, nghe đâu tháng kiếm vài chục triệu khỏe re nhờ buôn bán tạp hóa. Không hiểu sao, đầu năm cậu tôi thông báo cho ông bà ngoại tôi là vào Sài Gòn làm ăn. Ông bà ngoại tôi lắc đầu, thua rồi chứ giờ biết sao.

Bẵng đi một thời gian, thằng cháu là tôi mới lên chơi được chỗ cậu mợ. Trà nước xong ngồi nói chuyện cậu bảo, mày thấy cậu vậy thôi, chứ ba tháng đầu cũng nhọc lắm mày ạ. Buôn bán không tìm đâu ra mối, mình xe tải chạy hàng tới tận cửa mà không chen chân nổi với thằng xe máy. Nói thiệt với mày, mình tìm chỗ bỏ hàng, rẻ hết cỡ cũng không sao chạy lại họ. Mình bỏ mối 30, tụi nó cũng bỏ 30, mình bỏ 29, tụi nó cũng bỏ 29. Đó là mình chơi tiền tươi thóc thật với bọn cung hàng rồi, không nợ với không bảo tụi nó chuyên chở mà cũng không rẻ nổi. Biết sao không, tụi xe máy bỏ hàng, một cây ly thì nó rút ra một cái, thế là nó rẻ hơn mình rồi. Nhưng mà mình không chơi vậy được, mình có bảng hiệu đàng hoàng, làm thế khách hàng tới la inh ỏi mắng vốn, làm ăn được gì được nữa. Cậu tôi vào Sài Gòn không buôn bán tạp hóa nữa mà chuyển sang chuyên môn luôn, bán buôn mấy thứ như hộp cơm, muổng nhựa, bì ni lông, khăn giấy. Thấy rẻ thế thôi chứ làm nhiều ối tiền mày ạ, cậu bảo thế. Dân trong này giàu hơn mình thì không làm chuyện này, bọn bán bỏ mối cái này thì toàn nhỏ lẻ, xe máy thì làm ăn cơm chào gì. Mợ tôi bảo mấy tháng đầu đi xe máy chào hàng, mấy bà bán xôi, bán nước nhìn nửa con mắt, nhưng khi thấy cơ ngơi cậu mợ thì bảo: Bà này giàu mà giả điên.

Nói đến đây cậu quay lại anh họ tôi, làm nhân sự quản lý mấy bác tài, mày quản lý tài xế hả. Cậu nói mày biết, quản lý bọn nó không dễ ăn đâu. Lúc bọn mày ngủ nghỉ thì nó làm hùng hục, uyển chuyển tí cho có anh có em. Dân tài xế mà, thằng nào chả cục, cậu làm tài xế cả chục năm nên biết. Mày làm găng thì không có chỗ húp cháo, uyển chuyển thì được nhờ. Ấy, lúc cậu còn làm tài xế, Sài Gòn này biết đường thế nào, lạ nước lạ cái, tối tối còn phải lên mạng tra đường nữa là, khổ. Cậu cũng biết lên mạng nữa à. Chứ sao, tao buổi tối còn đi tới chỗ khách hẹn trước coi đường xá thế nào để hôm sau còn làm ăn nữa chứ mày tưởng đùa à.

Giờ thì tao cũng đỡ rồi, mấy thằng cung hàng cũng cung giá cạnh tranh cho tao. Mấy tháng đầu tiên cậu mày tính cậu mợ làm được trăm nghìn ngày là được rồi. Nhưng mô hình của cậu là mô hình tháp ngược, càng lên cao càng to ra, trăm rồi hai trăm, bốn trăm. Dậy mới nuôi nổi ba đứa con ăn học chớ mày. Nhưng cậu mợ cũng không lo lắm, tiền sống mấy tháng đầu có mấy cái nhà trọ xây hồi đầu năm nuôi rồi...

Chuyện nhiêu thế thôi, nhưng hôm ấy tôi hiểu thêm một số điều về cuộc sống, không phải là không có ích.


SBC là săn bắt chuột


Tôi cho hai sao không có nghĩa là tôi không thích cuốn sách này, cũng không phải nó gây cho tôi thất vọng hay buồn chán. Ngược lại, theo một nghĩa nào đó thì tôi thỏa mãn, tất nhiên chỉ ở giới hạn người đọc bình dân hai lúa (là tôi) mà thôi.
Tôi cho hai sao đơn giản vì nghĩ, để hơn thế thì nó phải phức tạp hơn, gay cấn hơn, nhiều tầng nhiều lớp hơn. Nói cho cùng, nó nên để người ta khó hiểu về nó hơn nữa thì mới đúng.
Nhưng tôi có thực sự hiểu ?
Nói trắng ra thì tôi chả hiểu khỉ gì về cái biểu tượng lũ chuột trong cuốn sách. Tôi lơ mơ nghĩ lũ chuột là đại diện cho cái xấu, cái đen tối, mịt mờ trong thời buổi đen tình đen đen đời này. Nhưng nếu hiểu theo kiểu đó thì tầm thường quá, nếu nó tầm thường thế thì cho một sao hoặc thấp hơn nữa mới phải cơ. Nên tôi đành chấp nhận lũ chuột đơn giản là lũ chuột. Cũng như phim hành động thì phải có súng, phim lãng mạn thì phải có tình dục, mà phim con heo thì phải có rên rỉ. Tìm hiểu ý nghĩa của súng, của tình dục hay rên rỉ thì nghĩa lý gì. Sách viết về chuột thì đương nhiên phải có chuột rồi.
Đọc cuốn này cũng giống như đọc báo, mà thực sự tôi nghĩ nó đích thị là báo. Này nhé, thời sự có, nóng hổi có, chính trị có, mà lá cải giựt gân câu khách cũng có. Toàn vấn đề nóng được xoi rọi kĩ càng. Từ chuyện lụt lội thủ đô, lấy đất dân làm sân gôn của mấy bác bự đến chuyện nhà giáo dâm dựt lăng nhăng, tệ nạn ma túy rồi báo chí viết tin xói mói đời tư. Đủ cả!
Các nhân vật cũng đầy tính hình tượng: ông Cốp, Đại Gia, Thư Kí, Luật Sư, Giáo Sư... Đích thị là chửi, chửi đủ kiểu, chửi khéo, chửi móc họng, chửi đểu, chửi ngầm, chửi um lên cả làng cả nước mà vẫn mơ hồ, tí ti "siêu thực" huyền ảo. Tuy cũng có tí phóng đại (hoặc biết đâu chả phóng đại tí nào) nhưng vấn đề nào nóng hổi nào của nước nhà thời gian gần đây cũng được đưa ra. Thật là báo chí chứ văn chương hư cấu gì !
Đó, bấy nhiêu đó hẳn cũng đủ thư giãn vài ngày, lại tăng cường hiểu biết xã hội, cũng lắm lợi ích nhỉ. Nhưng tôi chẳng thể đánh giá hơn hai sao, vì đến giờ, tôi vẫn chưa hiểu sao lại chọn chuột, và chuột thì có ý nghĩa gì?
Tính tôi chả thích hiểu đơn giản tí nào !

10.3.12

Về cái sự ghen ăn tức ở của bản thân.

Con người ai cũng cần chia sẻ. Nhưng con người ai cũng cần sáng tạo. Và khi sự chia sẻ không gắn liền với sáng tạo, hay ít nhứt cũng là đôi chút mới mẻ, tôi tự hỏi sao không ai thấy chán. Hoặc giả, nếu họ thấy chán, tại sao kẻ chia sẻ vẫn cứ chia sẻ, và kẻ được chia sẻ vẫn cứ hờ hờ hững hững mà tuôn ra mớ câu đồng cảm chán ngấy.

Ồ, nhiều khi bạn than mệt, kệ bạn chứ, bạn mệt là quyền của bạn. Nhưng bạn muốn chia sẻ cái sự mệt thì ít ra cũng nên sáng tạo một tí. Ví như cho tôi xem một clip tên Mệt, một bài hát có từ Mệt, hay một cuốn sách mà ít nhân một nửa số trang viết về Mệt (nếu có cuốn sách như vậy). Nếu vậy thì tôi cảm tạ lắm thay. Bằng không tôi sẽ trả thù bạn bằng cách nói mấy câu rút ra từ bí kíp thế này kiểu như: bình tĩnh đi em., mọi chuyện rồi sẽ qua, bình minh rồi sẽ đến, ai trong đời mà chưa "dấm tè"  đôi lần hả em, mạnh mẽ lên cưng để anh còn "cứng" chẳng hạn. Hoặc đại loại là mấy câu như thế.

Em có buồn không khi anh bảo những câu ấy anh đã dùng cả trăm nghìn lần với trăm nghìn người với trăm nghìn hoàn cảnh ? Em bảo, đếch quan tâm nhé. Vì em và anh cũng như nhau cả thôi, chia sẻ của em cũng có trăm cái  mà hơn nửa số giống nhau, sao anh còn đọc. Hay anh thích em, yêu em, hay chúng ta làm người yêu nhé, lấy nhau rồi sinh con đẻ cái, những đứa con của ta sẽ có tên lần lượt là like, facebook, timeline hay Chim điên đại loại thế. Anh bảo anh không có thời gian, vì anh đang bận like hơn trăm cái status khác mất rồi. Hay em cứ để in relationship với anh, anh like xong mớ đó rồi anh tính tiếp.

Chàng và nàng thế là từ đó yêu nhau. Tối tối làm tình bên trang new feed, hạnh phúc suốt đời !

(nhảm trong thư viện)

9.3.12

Đọc Chuộc tội của Ian McEwan


Tôi thực sự hơi bất ngờ về độ dày của tác phẩm. Chỉ với một cốt chuyện ít diễn biến, cũng ít gay cấn này, Ian McEwan đã làm tôi phải bỏ ra gần năm ngày để nuốt cho hết thì cũng thật tài tình. Nói chung, cấu tứ của toàn bộ cuốn sách rất chặt nhịp, không quá vội vã nhưng cũng không khiến người đọc phải thờ ơ ngáp ngắn ngáp dài rồi từ bỏ trong chán chường. Toàn bộ như được phủ một màng sương lặng lẽ, không hiểu sao, tôi còn thấy trong đó chút dửng dưng. Kiểu như "chả việc gì mà phải xoắn" của hầu hết các nhân vật, đó cũng có lẽ là sự cam chịu. Hoặc cũng có lẽ là thời gian của câu chuyện khá dài, năm năm, mà hầu hết các nhân vật chính người ở tù, người thì dằn vặt chán chê, người thì chả còn tí cảm giác nào nơi gia đình đã gây nên cảm giác ấy chăng ?
Cá nhân tôi không ưa Cecilia lẫn Robbie chút nào. À, thì đúng là họ phải hứng chịu tai họa từ một lời nói dối, dẫn đến suốt đời chia li cách biệt. Nhưng không ai có thể phủ nhận, tình yêu giữa họ khởi đầu rất kì quặc và có hơi hướng phức tạp. Mấy ai có cách diễn tả tình yêu đầy "y học" như chàng Robbie thiên tài kia. Nhưng họ, không ai chịu chấp nhận Briony, lúc đó 13 tuổi cũng phức tạp không kém gì họ, tâm hồn cô bé có khi còn phức tạp gấp hai lần cả chàng và nàng cộng lại. Một lời nói dối đáng kinh tởm đã xô đẩy cuộc đời hai người đang yêu xa nhau, nhưng cô bé đó cũng đã phải trả giá bằng một tuổi thơ dằn vặt về tội lỗi của mình, cảm giác đó kéo dài cho tới cuối đời của Briony. Tôi nghĩ như thế là đã đủ công bằng.
Riêng tôi không thích lắm về bố cục rạch ròi trong cuốn sách. Và cá nhân thôi,cũng không mấy ưa lắm lối kể lể mà tôi thấy là dông dài của Ian McEwan. Tôi nghĩ, một câu chuyện, bản thân tình tiết sự việc đã đủ cho nó trở thành tốt hay xấu, đáng đọc hay đáng quăng, miêu tả kĩ quá đôi khi không mấy cần thiết.
Trà đá: Khi tôi đọc cuốn sách này, Briony hiện lên hoàn toàn giống như những gì mà tôi hình dung về em khi xem Chuộc tội (đáng ra phải ngược lại mới đúng nhỉ, nhưng biết làm sao được, tôi đã xem phim trước rồi). Saoirse Ronan còn chiếm nhiều cảm tình của tôi hơn cả Briony trong cuốn sách kia, nói sao nhỉ, chắc bởi vì có những điều mà Ian McEwan vẫn chưa diễn tả giỏi bằng một cô bé chăng ?

1.3.12

Ngày 1 tháng 3 năm 2012

Vậy có thể nói rằng: vâng, xét về khía cạnh nào đó thì chúng ta tự do, vì chúng ta hoàn toàn tự quyết về mình. Tuy nhiên sự tự do ấy bị hạn chế bởi kinh nghiệm. Chúng ta bị bủa vây bởi sự đời riêng của mình. Con người là khuôn khổ bởi chính mình. Nhưng bên trong khuôn khổ đó thì có những biến chuyển hoàn toàn khả thi. Dù vậy người ta nên tránh hình dung ra sự tự do ấy quá nhỏ hay quá lớn. Ai không dám tin mình thì người ấy sẽ không phát triển. Còn ai tận dụng hết mức sự tự do nội tại theo quan điểm của Sartre, người ấy sẽ nhanh chóng tự đòi hỏi mình quá sức. Con người không qui hoạch chính mình rồi sau đó tạo cho mình một ý chí thích hợp. Chẳng có gì lạ, khi sự đòi hỏi quá sức ấy của chủ nghĩa hiện sinh nhanh chóng hết thời như mô hình Thiên Chúa giáo đòi hỏi phải yêu thương người khác "như yêu thương chính mình", hay như sự đòi hỏi quá sức về tinh thần của chủa nghĩa xã hội.
(Tôi là ai -  và nếu vậy thì bao nhiêu - Richard David Precht)