30.4.12

xuân từ chiều hay là Xuân Từ Chiều



Tôi mượn được quyển sách nho nhỏ nhẹ nhẹ xinh xinh này ở nhà một thầy dạy Toán. Không đọc trang nào trước mà tôi mượn đơn giản chỉ vì cái tên thơ thơ cùng với cái bìa tượng tượng. Mở sách ra đọc thì lại thấy lê thề và dài dặc vô cùng. Tất nhiên, đó không phải là một điều không tốt.


”Xuân Từ Chiều” hoặc “xuân từ chiều”, chả biết tôi có nên viết hoa cái tựa sách không vì đây vừa là tên nhân vật lại vừa có một ý nhất định nào đấy thì nhà văn Y Ban mới cho nó lên đằng đầu như vậy. Nhưng đọc khoảng vài trang và biết được thời cuộc trong lời kể tôi nghĩ rằng xuân từ chiều chắc là kiểu như có chút vui, có chút niềm tin và hi vọng nào đó trong cái man mác buồn của trời chiều. Và chắc cái mùa xuân tươi đẹp ấy khởi đầu tư khi ngày sắp kết thúc. Thế là mọi sự chuyển sang một giai đoạn mới tươi đẹp hơn.

Bối cảnh của tác phẩm là khoảng thời gian bao cấp, thời gian mà đất nước đang đổi mới một cách “ác liệt”.Gần đây nhất, tôi cũng có đọc một quyển sách kiểu này là Ăn mày dĩ vãng của Chu lai nhưng cuốn đó sền sệt yêu với đương nên cũng chẳng biết được gì nhiều. Vì thế, Xuân từ chiều chính là cuốn sách đầu tiên mà tôi đọc được về cái thời bao cấp này. Thật ra, đây là một tiểu thuyết nho nhỏ dễ đọc (tất nhiên không hẳng là ba xu như cô Y Ban trả lời lúc phỏng vấn) và dễ nắm bắt dù có lướt lướt qua như phóng máy bay.

Mở đầu sách như lời kể của những bà nội trợ rảnh rang ngồi tám những chuyện bá láp về người đời. Nhân vật trong câu chuyện của các bà là Xuân – một cô nuôi dạy trẻ về làm dâu ở khu tập thể từ năm 19 tuổi. Từ đó kể về môi trường sống của Xuân. Đó là một môi trường quái gở (là vì tôi nghĩ thế khi đang sống trong thời đại “thừa mứa” ngày nay) với những đứa trẻ không có đồ chơi đến mức vớt từ cống nước lên bao cao su để thổi bong bóng làm trò tiêu khiển, những căn nhà chật hẹp đến nỗi vợ chồng làm chuyện riêng sát mặt con cái rồi để nó “nhắc nhở” cho. Đó là nơi mà người ta sinh con không thành hoặc nạo thai như ngóe, trẻ em đưa đi chôn được Xuân và cô em nhỏ hơn là Từ gọi là "búp bê" (tôi thấy hơi rợn). Tất cả những điều đó tạo thành một giọng văn vừa mang vẻ buồn thay vừa mang vẻ châm biếm.

Đọc đoạn đầu, tôi nghĩ Xuân chính là nhân vật chính, mọi sự là xoay quanh cô này. Mà đúng thế thật, xung quanh cô còn có nhiều người phụ nữ khác. Đó là Từ và Chiều, nếu không tính đến những người phụ nữ có thân phận nhỏ nhặt trong tác phẩm như người đàn bà điên và Yến – một cô gái hay chơi đánh đề. Sau bao nhiều năm, cô em nhỏ Từ của Xuân đã lớn và có gia đình. Câu chuyện rẽ sang một hướng mới. Câu chuyện về gia đình Từ.

Tôi nghĩ có lẽ so với hai người chị lớn kia thì Từ vẫn còn thuộc lớp trẻ chán. Là lớp người cảm nhận được sự thay đổi của thời cuộc, cảm  nhận được sự bất ổn từ nhả cửa đến xã hội nhất, là người có một hoàn cảnh gia đình “phổ thông” nhất. Khi những bà chị kia đã ổn định thì cô hãy còn quá non trẻ. Vì thế mới có nhiều chuyện lê thê hơn để bàn. Đôi khi kể chuyện Từ thì tác giả xen vào mấy chỗ nói về Xuân và Chiều, những người này như đóng vai trò để người đọc so sánh hoàn cảnh của các “bà cô” với nhau xem ai khổ hơn ai.


Thời thế thay đổi, xã hội phát triến hơn và nhất là giữa phố thị đương lên kia thì đầy nhóc điều ra để nói. Từ kiếm việc lam khó khăn trong thời buổi giảm biên, ra lề đường bán hàng thì phải đút tiền cho mấy quan đi phạt người lấn chiếm lề đường. Chồng Từ không sang nước ngoài không được vì cái kiểu dân mình cấm vận dân mình. Sau đó thì lại đến chuyện xin cho con đi học cũng đầy trắc trở. Nhưng dù long đong như thế, Xuân từ chiều cũng không phải là một câu chuyện buồn. Khi tôi nghĩ sự đầy đau khổ thì lại có chuyện vui thế chỗ. Chính vì vậy mạch chuyện liên tục với những chi tiết rất hiện thực và không bi lụy.


Nhưng bi lụy nhất có lẽ là chuyện của cô Từ, một người phụ nữ vì chồng con cả đời rồi cuối cùng khi xã hội thay đổi thì bị chính gia đình mình đạp lại trong bóng tối cô quạnh trước cuộc đời tươi sáng, linh động ngoài kia.


Tôi nghĩ chuyện của Xuân thì lại là chuyện tình lãng mạn và ít thật nhất trong Xuân Từ Chiều, thật khó để hai vợ chồng cô hạnh phúc được trong cảnh hiếm muộn. Nhưng rồi chồng cô mất đi thì chuyện của Xuân cũng chưa phải là trọn vẹn. Mà ở ba người đàn bà này, có người nào được lấy làm chuẩn mực cho người nào về cái trọn vẹn ấy đâu. Dù đôi lần Từ ghen tỵ với Xuân nhưng cuối cùng cô cũng đã thỏa mãn với những gì mình đang có với cuộc sống bình thường ổn định của bản thân.

Tôi không thích đem tình trạng của ai thì khổ hơn ai trong ba người đàn bà này. Bởi vì cuộc sống thì không chọn lựa được nhiều mà chỉ chọn điểm khởi đầu mà thôi. Sở dĩ cuộc sống của họ trắc trở và kết thúc thế nào thì cũng là do điểm lựa chọn và cách duy trì sự lựa chọn ấy mà thôi. Mà có ai biết những thứ tốt xấu xảy đến thì sẽ đưa con người đi đến đâu đâu nào.

Tôi thấy mình nói cũng nhiều và cũng đã đến lúc kết thúc rồi. Nhưng tôi nghĩ rằng nếu những ai đọc Xuân tư chiều thì sẽ hơi thất vọng với cách kết thúc hơi lên gân của nhà văn. Tôi muốn một câu chuyện nhỏ nhắn như thế này phải bình thường hơn một chút. Và nếu tác giả không rẽ sang trang khác mà để lối viêt không xuống dòng tiếp diễn như kiểu mấy bà cô tám chuyện ngoài đường thì sẽ thú vị hơn. Sẽ lê thê và thiệt tình hơn nhiều.Và có lẽ tôi cũng hơi chủ quan khi nói vậy.

20.4.12

Linh ta linh tinh 2

Có một lần suy nghĩ, tôi rút ra rằng có hai loại cô đơn trong cuộc đời.  Một là sự cô đơn khi ta thiếu thốn mọi thứ, vật chất lẫn tinh thần. Loại thứ hai là sự trống trải của cái mà ta gọi là đủ đầy hoàn hảo.
Năm đầu tiên đại học, tôi về khuya và bị lạc. Tôi hỏi người lao công có chiếc đèn nhấp nháy xanh đỏ. Và cái tôi nhận được, không chỉ là câu trả lời, mà là cả một nụ cười hoàn toàn. Đến giờ tôi vẫn nghĩ chú ấy cô đơn biết bao, giữa bóng tối và chìm đắm trong chính sự tồn tại của bản thân mình.
Ngày hôm nay, tôi ngồi trên chiếc ghế cao nhất của sân cầu lông, và dõi theo đường cong hờ hững của những quả cầu giữa hai lượt vợt. Tôi ở trung tâm tất cả, vô hình, và tự hỏi xung quanh mình, sự liên kết ở đâu và phải chăng nó có tồn tại.
Ngày hôm nay, tôi cũng đọc một cuốn sách viết về những khoảng trống: "Nỗi cô đơn của các số nguyên tố",  và ngẫm nghĩ về sự đủ đầy lẫn thiếu thốn, ngẫm nghĩ về nỗi cô đơn của con người trong chính mỗi cuộc đời. 

16.4.12

Nhật kí Sa mạc

Có nhiều cách sống và nhiều cách chết. Nhưng có quan trọng gì đâu. Điều duy nhất còn lại là sa mạc. (Haruki Murakami)
Tôi bắt đầu viết những dòng này từ ngày 13 tháng 4, khi mới đọc chưa hết trăm trang cuốn tiểu thuyết có tên Sa mạc của Le Clézio. 

Những ngày này, Sài Gòn nóng bức và khó chịu. Mặc dù đã quen với tiết trời như thiêu đốt này từ khi ở ngoài trung, tôi vẫn thấy lòng mình một nỗi ấm ức, tất nhiên là với những người sống miền ôn đới. Như để giảm bớt sự ghen tị khổ sở, tôi tìm một tác phẩm viết về sa mạc, và đã tìm thấy một sa mạc thật ! Nói chơi đấy, đừng tin nhé, chẳng qua tôi muốn tìm kiếm điều gì đó khác hơn với cuộc sống hiện tại có đôi chút nhạt nhẽo này thôi.

Sa mạc và những con người ở đây sẽ vừa lạ lẫm vừa quen thân đối với chúng ta. Lạ lẫm vì họ được sinh ra, lớn lên, bước đi không dứt để rồi chết nơi nền cát khô cằn. Lạ lẫm vì cuộc sống bấp bênh, vô định, và mục đích của cả một cuộc đời dường như chỉ là nước uống, thức ăn cho gia súc và con người, nơi thiên nhiên dữ dội. Nhưng trong tất cả những thứ đó, họ quen thuộc với cuộc sống nơi này. Đối với họ, sa mạc là đất mẹ, là quê hương, là tổ ấm và là linh hồn của Chúa nhiệm màu.
Nhưng đó lại là thế gian thích hợp với họ. Cùng cát, đá, bầu trời, mặt trời, niềm im lặng cùng nỗi đau đớn này, chứ không phải những thành phố bằng kim loại và xi măng, nơi người ta nghe ra tiếng của những máy nước và những giọng nói con người. Chính nơi đây, trật tự trống trải của sa mạc, là nơi mọi điều đều khả hữu, nơi người ta bước đi không bóng bên bờ cái chết của chính mình...tự do như không có ai trên đời này được như vậy...
Chẳng cần những câu chuyện, khung cảnh của cuốn sách đã là một câu chuyện dài và đẹp rồi. Tôi nghĩ, thậm chí sa mạc còn đẹp hơn hết thảy, nên thật bất công nếu nó chỉ được coi là nền, là bối cảnh, hay là gì gì đó ẩn dưới lớp lớp những nhân vật sau này. Bản thân sa mạc đã bao la và vĩ đại, khô cằn độc ác, nhưng vẫn bao la và vĩ đại.
....
Ngày 14 tháng 4, một cuối tuần như bao cuối tuần khác. Tôi ngủ dậy, làm những công việc hằng ngày, và bỗng nhiên nhớ tới sa mạc của tôi. Sa mạc của tôi chứ không không phải của Le Clézio. Sa mạc không cát, không nắng, không gió bụi mịt mờ nơi bước chân đoàn du mục. Sa mạc lặng yên như tờ, trống trải và hiu quạnh, không quá rộng đối với một đoàn người, nhưng là vô tận với một kiếp người.

Tôi nhớ tới cô bé Lalla yêu thích thiên nhiên nơi sa mạc tới từng con ruồi hay bám chân người. Tôi nhớ tới cậu bé câm nhưng nói được nhiều hơn ai khác Hartani, tới ông già đánh cá Naman cùng những chuyến phiêu lưu, tới người phụ nữ nhân hậu mang cái tên Aamman. Và hơn hết, là sa mạc mờ ảo qua giọng văn chậm rãi và phôi phai của Le Clézio. Ở dưới góc nhìn của Lalla, sa mạc không dữ dội và khắc nghiệt như bên kia không gian của Nour. Sa mạc là ước vọng của trí tò mò, sa mạc là lãng mạn tuyệt đối, là không gian tự do, nơi những chiến binh hiện hữu, đến rồi đi một cách âm thầm.

Le Clézio thật tài tình khi một bên miêu tả sự khắc nghiệt cay độc, một bên gợi lên những ảm ảnh tinh khiết khôn nguôi. Một bên là những chuyến đi trong không gian, bên kia là sự dịch chuyển nơi tâm hồn và trí tưởng tượng. Một đằng là trai tráng dặm trường, đằng khác lại trong sáng thơ ngây và tràn đấy khát vọng.

Hình như tôi đã thấy yêu sa mạc rồi.

Và tôi chờ đợi hai con người ấy, hẳn rồi, sẽ gặp nhau, nhưng giờ thì chưa biết vào lúc nào.
...
Ngày 16 tháng 4, tôi chờ đợi mãi hai nhân vật chính của câu chuyện gặp nhau, nhưng cuối cùng nơi họ, vẫn chỉ là sự chia cắt. Mà cũng không hẳn, họ đã bao giờ gặp nhau ngoài một điểm chung xuất xứ: sa mạc. Vậy là mạch chuyện của Le Clézio được chia cắt từ đầu tới cuối, tôi nghĩ điều đó như một sự đau đớn với bản thân. Khi hai nhân vật đáng thương kết thúc câu chuyện của họ nơi sa mạc, lặng yên cùng những hoài niệm về tương lai và hy vọng mịt mờ trong gió bụi.

Lalla sinh đứa con đầu tiên của mình trong sự cô đơn nhưng tràn trề niềm tin sau một chuyến hành trình dài, mà điểm đến cuối cùng lại là nơi bắt đầu: sa mạc. Nour, sau cái chết của vị tù trưởng thánh thần, lại cùng những chiến binh dấn sâu thêm vào sa mạc, về phía Nam. Hai con người, trải qua không biết bao nhiêu mệt mỏi, đau đớn, hận thù và cả niềm vui sướng khắc khoải quay lại nơi họ sinh ra, sa mạc. Sa mạc thấm sâu đến tận cùng những con người nơi đây, biến thành đôi mắt, đôi tay và suy nghĩ của họ. Để rồi dần trở thành những thứ tất yếu, dù rạng rỡ hay u ám đau buồn.
Tự do thì vô cùng, nó bao la như mặt đất mênh mông, nó đẹp đẽ và nhẫn tâm như ánh sáng, nó dịu dàng như những con mắt của nước... Quay về phía sa mạc, họ cầu nguyện không lời.

11.4.12

Đọc các thể loại sách khác, ngoài tiểu thuyết

Đôi khi sầu muộn (ấy là nói văn vẻ thế), đôi khi đời thật chó (nói một cách tục tĩu), hay đôi khi cuộc sống không được như ý mình muốn (nói kiểu "súp hồn tâm gà"), tôi lại kiếm gì khác để đọc. Và thể loại tôi ưa thích  nhưng chả mấy hiểu biết (giống như hầu hết các thể loại khác :D), là triết học.

Tôi cũng không mấy khoái triết sự nhiễu đời lắm đâu. Tuy thế, lại khoái cách nghĩ của các cụ "nhà triết học" lắm lắm. Bởi dù gì, thì các cụ cũng đã bỏ cả cuộc đời ra, mà ngẫm nghĩ mọi sự. Khác với thể loại triết giáo bên quán nhậu với vài con khô, hay thể loại dạy bảo xoa đầu "súp hồn tâm gà", tôi tin các cụ này hơn. Niềm tin này được đảm bảo, bằng nhiều thế hệ đọc giả (hiểu hoặc không hiểu) xây dựng mà thành chứ không phải một sớm một chiều mà được.

Nói về tại sao tôi đọc, ấy là để chơi thôi. "Chơi" vì chỉ có thể chơi, chứ nhiều cái chẳng hiểu gì ráo. Ai đời đọc Zarathustra đã nói như thế mà chỉ rút ra được mấy cái nhận xét lặt vặc về phụ nữ, rồi dăm ba câu trích dẫn mà đến giờ cũng chưa rõ hết ý kiểu sa mạc lớn dần, khốn thay cho kẻ nào ôm sa mạc. Cả một hệ tư tưởng mà  "đại khái" ra như thế thì thật nguy hiểm. Ấy là nói thế, chứ thực tình đọc thì cũng khoái, tôi hiểu rằng nhiều thứ nên suy nghĩ và lặng im. Tôi hiểu mình biết ít và ngây ngô đến thế nào, tạm thời là như thế.

Còn đây là cuốn mới nhất tôi vừa đọc xong: Học cách sống của Luc Ferry

Thật tình thì tôi chả thích cái tiêu đề này tẹo nào, tuy thế, đây là một quyển tóm lược dễ hiểu và đáng đọc cho những người mới đọc triết. Căn bản mà.

6.4.12

Những câu hỏi của Ryszard


Tôi có một điều sợ hãi, đó là sự quả quyết. Diễn giải một cách ngắn gọn, tôi sợ những gì chắc chắn: những con người, những quan niệm, ý kiến, những suy nghĩ không hề thay đổi. Ngắn gọn hơn nữa, tôi sợ cảm giác tin là mình luôn luôn đúng, tôi sợ chính mình nghĩ bản thân chẳng bao giờ sai. Nói tóm lại, tôi sợ hãi sự tự cao của tôi.

Nó đến và đi trước khi tôi có ý niệm về chính nó. Nó cản trở bản thân tôi đặt nên những câu hỏi. Nó buộc tôi phải đưa ra ý kiến. Nó làm tôi giới hạn tầm nhìn hạn hẹp của mình, ở một không gian, một thời gian nào đó, trong tôi. Điều đó quả là đáng sợ. Nhất là khi tôi định chê bai hay đả kích ai, hay điều gì. Cái miệng luôn đi trước con tim và khối óc. Khủng khiếp !
Người đàn ông Hi Lạp của chúng ta không nói thêm gì về cuộc hành hình này. Đó là quyết định của ai? Của Đại hội Dân chúng? Của Hội đồng thành phố? Của ủy ban phòng thủ Babylon? Có cuộc tranh luận nào về vấn đề này hay không? Có ai phản đối không? Có ý kiến khác không? Ai đã quyết định cách giết những người phụ nữ này? Về chuyện bóp ngạt họ. Có các đề nghị khác không? Đem đâm họ bằng giáo? Chém bằng kiếm? Thiêu trên giàn lửa? Ném xuống sông Eupharates chảy qua thành phố?
Đó là những câu hỏi của Ryszard, khi đọc đến đoạn người Babylon quyết định giết những phụ nữ của họ để tiết kiệm lương thực, khi sắp xảy ra chiến tranh với Ba Tư. Và đó chỉ là số ít những câu hỏi mà của ông trong cuốn Du hành cùng Herodotus. Cuốn sách là tràn ngập của những hoài nghi của Ryszard, hay của chính Herodotus về những sự kiện, những con người cùng với hành động của họ. Herodotus, hai nghìn năm trước, ghi lại lịch sử cùng với sự hoài nghi. Và Ryszard, hai nghìn năm sau, đọc lại và luôn song hành với những câu hỏi của mình. Sẽ rất dễ hiểu khi con người Ryszard ấy, với chút tự phụ thông thường, đánh giá và nêu lên ý kiến. Nhưng thật may mắn, ông chẳng làm gì khác, ngoài chuyện đặt ra những câu hỏi.
Có phải từ dạo ấy, đêm Babylon luôn làm cho những người đàn ông kinh sợ? Họ có thức giấc? Họ có gặp ác mộng? Họ không ngủ được? Họ cảm thấy ma quỉ tóm lấy cổ mình?
Chúng ta luôn thích những câu hỏi, vì chẳng có gì tồn tại ngoài những câu hỏi cả. Rồi sẽ rất nhanh, người ta quên đi đúng sai, đánh giá và phán xét, chỉ có những câu hỏi là sống mãi cùng sự hoài nghi ngàn đời của loài người. Ghi chép lại, đó là chúng ta đang đi cùng thế giới, để thỏa phần nào "trí tò mò", "lòng khát khao trải nghiệm", "nhu cầu luôn muốn được ngạc nhiên" và "say mê vượt qua biên giới thời gian". Nhưng tất cả những điều đó, Herodotus ghi lại với sự tỉ mỉ nhưng khiêm tốn và không chút cả quyết. Những trang sử là lặp đi lặp lại của chuỗi dài không chắc chắn: anh ta, như người ta nói; theo tôi được biết; như tôi dự đoán; đây là ghi nhận của tôi; tôi không thể đưa ra một cách chính xác... Ông ôm vào mình tất cả những hoài nghi, và hứng chịu những câu hỏi mà hơn hai nghìn năm sau một độc giả khác nữa, sẽ đưa ra và đi tìm kiếm câu trả lời.

Hai con người, hai thời đại, khiêm tốn và ham tìm tòi đã gặp nhau, tìm thấy nhau và tìm thấy chính bản thân mình trong từng trang sách. Với khao khát vượt qua những biên giới của hiện tại, lưu giữ những khoảnh khắc của lịch sử, họ hóa thân vào nhau, thân thiết và bên chặt như hai người bạn chân chính. Và quan trọng, cả hai, đều biết đặt ra những câu hỏi, cho riêng mình, và cho cả những người mà họ chưa từng gặp mặt, hôm nay hoặc mai sau.
Sa mạc lớn dần, khốn thay cho kẻ nào ôm giữ lấy sa mạc (Friedrich Nietzsche)

1.4.12

Linh ta linh tinh 1


  1. Tui có một thằng bạn hay hay. Bữa rồi cu cậu bảo nộp đơn đi thi đại học. Tụi tui học năm hai rồi, nhưng cu cậu thích thử lại cảm giác thi mà không lo lắng nó như thế nào. Ban đầu tui cũng khoái, tuy rằng có vẻ hơi rảnh. Cho đến khi cu cậu bảo khéo thì hất cẳng vài thí sinh năm nay, tự nhiên, tui thấy nó vô nhân đạo thế nào ấy. So sánh thế này cũng hơi khập khiễng, nhưng thử tưởng tượng xem, nếu như tui có bánh để ăn, có nước xì ting dâu để uống, mà còn chen lấn kiếm chút đỉnh cho có người bị đói chơi, thì tui cũng buồn lắm. Biết đâu rớt đại học, đời một con người nào đó bị thay đổi hoàn toàn. Từ xấu lên tốt không nói, bằng không ngược lại thì có gì hay ho. Cướp đi cơ hội của ai đó mà mình không hẳn cần nó, thì có gì hay ho. Nhưng tui biết thế thôi, chứ không nói tiếng nào, vì lựa chọn mà, còn tùy người.
  2. Tui đang đọc Du hành cùng Herodotus, cá nhân mà nói tui thấy tác giả có cách diễn đạt rất hay, không quá khô khan nhưng dễ hiểu, đúng kiểu "sô cô la đen" - đắng nhưng mê đắm và say sưa. Tui cũng thích cách ông quan niệm về thế giới và những chuyến đi, cách ông nghĩ về văn hóa, về con người và những cuộc chiến, cách ông lạc quan và tin tưởng những điều mà chính mình phác họa nên. Và đặc biệt, là suy nghĩ khiêm tốn và thấy mình nhỏ bé ấy của ông, chân thật chứ không quân tử Tàu chút nào.
  3. Khổ sách của Lolita bản tiếng Việt mới đây to quá. Đẹp nhưng to, làm tui cầm đôi lúc thấy ngại ngại thế nào ấy. Hôm tuần rồi, ở lớp tui thấy những ba bản, tính luôn cả bản của tui. Điều đó chứng tỏ Nhã Nam làm tốt phần việc truyền thông như thế nào rồi đấy. Hoặc giả, chẳng có bản dịch nào ở Việt Nam được đầu tư ra hồn, để mà làm đối trọng với các tác phẩm dịch của Nhã Nam cả.
  4. Phim Big Fish là một bộ phim hay, mơ mộng và huyền ảo đúng kiểu Ghibli. Tui xem và nhớ nhất một câu, đại khái là Cả cha và con đều là những người kể chuyện, có điều, cha kể ra bằng lời nói, còn con thì viết ra giấy thôi.