22.4.13

C.H.A.T

Hôm nay tôi ngồi với A.T ở một góc trên đường Hòa Hưng. A.T cắt tóc ngắn, trông mắt rất buồn, nói chuyện chậm rãi và nhẹ nhàng. Tôi cảm thấy A.T giống tôi mỗi khi phải vất vả để tìm cách diễn đạt những gì mình nghĩ. Có khi sau  cả quãng dài nghĩ ngợi, em dường như nuốt trôi mất lời nói trong một sự mơ màng nào đó.

Chúng tôi là hai kẻ vu vơ may mắn tìm thấy nhau khi màn đêm buông xuống. A.T bảo rằng con người chỉ buồn lúc đêm về. Em nghĩ làm việc ban ngày là hợp lý, đêm khuya sẽ dễ bị người khác làm phiền vì những vẩn vơ nào đó. Tôi không biết tôi có phải là một trong các “vẩn vơ” đấy không. Chỉ có điều, lời nói không khi nào diễn đạt hết được mọi thứ, tôi cố gắng nói ít lại. Tất nhiên là không được. Tôi vẫn là kẻ nói nhiều hơn em.Chúng tôi nói về lũ chuột của thành phố khi đêm về. Tôi kể có lần mình lái xe đi giữa Sài Gòn lúc 2h sáng và cảm thấy cả thành phố là của lũ chuột. Hàng triệu con người đang ngủ còn hàng triệu con chuột đang sống cuộc đời của chúng. Điều u buồn duy nhất là chẳng ai biết đến ai. Những con chuột là một điều vu vơ mà trong giới hạn của chúng, chả cần đếch ai quan tâm. Nhưng tôi vẫn thấy lạ, người ta còn quên đi bao nhiêu điều nữa về cuộc sống. Tôi đã quên bao nhiêu điều về cuộc sống?

Tôi kể cho A.T nghe mình đã từng muốn viết về một nhân vật mà khi được hỏi ước mơ của hắn là gì, hắn điềm nhiên trả lời: “Tôi mong sao lúc chết đi được chôn ở một trong hai địa cực, vì cả thế giới sẽ phải xoay quanh xác tôi”. A.T không cười. Em ngó vậy mà u buồn hơn cả tôi. Em hai mươi, bằng tuổi tôi, và cuộc sống của em xoay quanh những giá vẽ, những màu, và những hình khối. Tôi khác em, tôi tính toán và cố gắng nói dối thiên hạ về những gì họ muốn. Tôi bảo: Hãy mua hàng đi và các người sẽ hạnh phúc. Thực tình chẳng có ai ăn mì hay xài điện thoại di động mà hạnh phúc cả. Cái họ cần là tình yêu. Thứ này không có bán. Hay có bán mà tôi không biết chăng?

Tôi mò mẫm trong facebook của em. A.T không nói nhiều. Những ai còn cập nhật được facebook thì hẳn vẫn hạnh phúc. Em không nói được trên facebook thì sẽ nói ở đâu. Hẳn em có nhiều bạn? Hẳn em có gia đình để chuyện trò? Hay em có một chốn riêng tư nào đó. Tôi quên kể với em rằng tôi có một chị bạn rất đáng yêu. Chị ấy không xài facebook. Và khi chị ấy cập nhật dòng trạng thái đầu tiên của cuộc đời, tôi bớt yêu chị ấy hơn một chút. Một chút đáng kể đấy.

Tôi còn nói với A.T những điều tôi nghĩ về cuộc đời và những phân mảnh của nó. Em kể cho tôi nghe em đã lìa xa một mối quan hệ như thế nào. Tôi than thở với em về tình yêu nhỏ của tôi. Còn em cho tôi biết em đã chờ đợi ai đó trong nhiều năm.

Thế rồi tôi ra về. Em nhắn tin bảo tôi đi đứng cho cẩn thận. Một cô gái đã bảo tôi phải đi đứng cho cẩn thận. Vì thế, tôi đi chậm, 20km/ giờ. Hao xăng lắm, nhưng xứng đáng :)

19.4.13

Đọc đúng thời điểm

Nói cho máu thì có những cuốn sách nên được đọc đúng thời điểm của nó. Trên đời, vô vàn sách hay, nhưng con người thì chỉ có được hữu hạn những khoảnh khắc thích hợp để cầm chúng lên và lật trang. Hồi nhỏ, thời gian còn vô hạn thì ít sách. Lớn lên thời gian co lại, thì đâm ra quá trời sách để đọc. Nhưng thậm chí khi lớn có nhiều thời gian đi nữa, những cuốn sách của thuở nhỏ cũng có điều gì đó mà chúng ta không thể tìm lại.

Hồi nhỏ ba má tôi có một tủ sách cũ rất bé. Đó là nơi tôi có thể tìm thấy một số sách không đủ nhiều để có thể thỏa mãn được mình. Trong số những cuốn đó, có một bộ tuyển tập truyện ngắn 30-45 mà tôi đọc qua đọc lại trong những năm tháng tuổi thơ. Đến khi lớn lên một chút, khi đã mười bảy, mười tám, tôi lờ mờ nhận ra rằng mình chẳng thể nào trở thành người xấu được :). Căn bản vì hồi đó mình đã trót đọc bộ tuyển tập thảm thương này. Nhưng tôi cảm thấy mình buồn và đau khổ hơi bị nhiều :). Và sự tự nhận thức đó khiến tôi càng chán tợn, vì chẳng thể nào thoát ra được.

Năm lớp bảy, nghĩa là sau khoảng vài năm tôi đọc xong cuốn tuyển tập đó, tôi đã bắt chước viết một truyện ngắn tương tự. Dĩ nhiên tôi phải bỏ dở sau khi phác họa được một nhân vật bị cả làng ghét bỏ :). Hồi đó, tôi đã cố gắng viết sao cho thật mỉa mai, cho thật cay độc và cay đắng. Thuở nhỏ, việc như thế không khiến tôi ngạc nhiên. Chỉ cho đến khi lớn, nghĩa là bây giờ, tôi tự thấy một thằng nhóc cố gắng mỉa mai và tỏ ra cay độc thì có ý nghĩa gì. Và quan trọng, là việc đó có phải là chuyện bình thường.

Những truyện như Nhà mẹ Lê, Kép Tư Bền, Ngựa người người ngựa, Oẳn tà roằn, Báo hiếu trả nghĩa cha, Báo hiếu trả nghĩa mẹ, Một bữa no, Đói, Răng con chó của nhà tư sản... có lẽ không phù hợp với não trạng của một đứa trẻ. Tôi không có ý trách bố mẹ mình đã cho phép tôi được tự động lục lọi và đọc bất cứ thứ gì vớ được. Nhưng có lẽ chính việc đọc những chuyện như thế khiến tôi cứ bị cái dớp nhỏ bé ám mãi. Để tới bây giờ, tôi đâm trách móc cả một cuốn sách, trách móc cả những con chữ :)

Tôi vốn thích những thứ mỉa mai, giống như truyện của Frédéric Beigbeder, Michel Houellebecq, Romain Gary, những thứ mạnh mẽ như tác phẩm Nietzsche, những gì bi quan như của Arthur Schopenhauer, những cười cợt và nổi loạn như sách của Phạm Công Thiện, như Bắt trẻ đồng xanh của J. D. Salinger. Tôi thích chúng cho đến khi giật thót vì nhận ra mình yếu đuối đến mức phải trốn tránh trong chúng và cười cợt mọi sự.

Thật ra, chuyện người ta đọc gì lúc nhỏ chắc hẳn phải quan trọng đến một mức giới hạn nhất định. Chẳng thế mà có ông nhà văn nào đó bảo ổng chỉ viết bằng những gì đọc được trong 10 năm (?) đầu đời còn gì :). Mai mốt tôi làm bố, nhất định tôi sẽ giấu tiệt cái cuốn truyện ngắn 30-45 của mình năm xưa đi. Vì những truyện trong đó buồn quá. Chắc hẳn có những nỗi buồn mà tuổi nhỏ có thể đọc. Nhưng không phải nỗi buồn nào cũng giống nỗi buồn nào.

14.4.13

"Đỏ" và những lặng yên

Mẩu này viết lâu rồi mà chắc xài không được nên post lên blog phủi bụi :P
.........
Đỏ (Nguyễn Dương Quỳnh, Nhã Nam và NXB Lao Động) bắt đầu bằng sự bất lực với việc tìm kiếm một chỗ trọ “tôi không tìm được chỗ thuê nào rẻ hơn”.  Rồi đột ngột, Đỏ kết thúc trong một bất lực tìm kiếm khác, dõi theo những cuộc đời “chẳng bao giờ cắt nhau qua nữa.” Cái còn lại của sự chia cách kia là một dư âm bền bỉ và rõ ràng.

Dư âm trong Đỏ - truyện ngắn đầu tiên trong một Đỏ gồm hai truyện chính là sự yên lặng. Đó là cái yên lặng của không gian bên ngoài với dòng sông “không thấy bóng dáng đứa trẻ nào,” của không gian bên trong căn phòng mà “ánh trăng không lọt vào được.” Đó là cái lặng yên đáng sợ của “cánh rừng không có gió, mùa thu không có gió.” Và là sự bất động của lòng người, sự ý thức được một cái gì nhỏ bé nhưng  chẳng phải dành cho mình: “tôi chợt nhận ra nó không nhìn tôi”,  “ông ta không quay lại để thấy tôi vẫn đứng lặng bên cột đèn…”, “…tiếng nói ấy dịu dáng quá mức, thực buồn sao nó không dành cho tôi.”

Đỏ xoay quanh mối quan hệ giữa một du học sinh Việt Nam với một người đàn ông Trung Hoa, một đứa bé - con của ông ta, và một sinh viên mỹ thuật bỏ học để trở thành thợ làm bánh mì. Nhân vật “tôi” của Đỏ không biết tiếng Hoa và sống một cách lặng lẽ trong khu phố người Hoa. Những nhân vật trong Đỏ không hoặc ít khi lên tiếng. Bằng cách này hay cách khác, họ cố hiểu nhau trong câm lặng. Không gian của Đỏ tràn ngập những phủ định, “không” màu, “không” có sự chuyển động, “không” hiểu và “không” thuộc về nhau. Chính những phủ định tưởng chừng như lỏng lẻo đó đã cố kết cuộc đời họ lại trong một nỗ lực phi ngôn ngữ. Sự thấu hiểu bị lệ thuộc vào cảm giác. Phóng chiếu theo đó, những nhân vật dường như đang đứng yên và quan sát lẫn nhau thay vì cố gắng đến với nhau. Mọi thứ khả dĩ trở về trạng thái bình lặng và tự nhiên như nó vốn có.

Chúng ta thường đánh mất đi nhiều tự nhiên bằng việc lọc đi dữ kiện. Đứng trước cái mất mát tính ngây thơ tất yếu, hoặc ra ngoài vòng xoay, từ chối dữ kiện và trở thành một kẻ thờ ơ. Hoặc như Đỏ, va vấp và mòn mỏi, loay hoay không muốn đi đến tận cùng, và do đó giữ được những ngây thơ tưởng chừng như đã tiêu biến từ lâu. Như đứa trẻ trong Đỏ, từ chối những quả táo, hối tiếc, rồi bỗng chốc vui trở lại với một mảnh vỏ táo. Như trong Đỏ, có ai đó đã gọt biết bao nhiêu quả táo, chỉ để mùi táo lưu mãi trên tay.

Đỏ có hai tuyến truyện. Một với thứ ngôn ngữ câm lặng đến dằn vặt (thông qua những hành động bất lực để bảo vệ đứa con của người cha). Một với sự loay hoay tuổi trẻ dường như đã đi đến hồi kết (xoay quanh câu chuyện của người thợ làm bánh mì). Nếu như tuyến truyện đầu là một cõi xa xăm để nhân vật tôi nhìn thấy tâm hồn mình trong những cách chia, thì tuyến truyện sau dường như lại là một đoạn kết có hậu. Bằng những trao đổi, nhân vật tôi, qua một hình ảnh mạnh dạn và lạ lùng khác (người thợ làm bánh), đã xóa đi lớp phông nền mờ nhạt của những ẩn ức nơi khu phố ngươi Hoa câm lặng. Đó không phải là một câu trả lời cho tất cả mọi chuyện. Đó có vẻ như, một sự sợ hãi đã đi đến giới hạn của nó, tìm cách thoát ra, bằng ngôn ngữ, bằng chuyện trò, bằng mùi bánh mì và những ngày mưa không dứt.

Sự im lặng vẫn còn đó trong Đỏ. Nếu không có sự im lặng, thế giới của Đỏ hẳn đã vỡ nát ra thành trăm mảnh rời rạc bởi những cố gắng xóa nhòa khoảng cách. Chính những im lặng nhẹ nhàng và dằn vặt đó là mối dây ràng buộc giữa con người với con người. Bằng thứ im lặng điềm tĩnh, có chủ ý và rất kiên trì, Đỏ đã tìm thấy sự bình thản (dù không tuyệt đối) trước những xa rời, lạc lõng giữa cuộc đời. Và cố gắng cư xử để tâm hồn không dần khô cứng đi trong một thế giới thiếu vắng những thanh âm vang vọng nhưng vẫn mãi ồn ào, tất bật.

Còn một truyện ngắn khác cũng xuất hiện trong tập này. Khác với Đỏ, đó là một Nước xốt cà chua có những quấn quít xinh xắn của tự thuật, đối thoại và rất nhiều âm nhạc. Nhưng  khi câu chuyện đã im lặng một cách có chủ ý sâu đến vậy, việc thốt ra thành lời dễ đưa người đọc đến sự lạc lõng khó tránh được. Và thế, bạn đọc hẳn có quyền lờ đi một nửa của Đỏ, để giữ những câu văn khỏi bật thành lời, thành thanh âm, hay bất cứ điều gì khác.
.........
Link: Đỏ được viết lúc tác giả học năm nhất đại học, Nước sốt cà chua được viết năm lớp 11. @@. Còn năm nhất đại học tới giờ tớ toàn ngủ, ngủ, ngủ và ngủ. Những nỗi buồn cũng trôi theo từng cơn ngủ.

12.4.13

Nỗi buồn và cái gương nhà tắm

Ta mệt mỏi khi phải đối diện với quá nhiều thứ trên cuộc đời này, dù cuộc đời thì chẳng dài là bao. Ít nhất là vài năm cuộc đời của một người đôi lần đầu tiên bất chấp thứ này thứ kia. Nhưng sự mệt mỏi vốn dĩ đã không có chuẩn mực. Cũng như sự thoát ly khỏi nó là muôn phương ngàn kế. Nói thế cũng chẳng phải ghê ghớm lắm khi người ta tưởng chừng mình là một đứa xảo quyệt vô biên. Cái gương nhà tắm – nơi người ta trần truồng đứng nhìn bản thân mình trước nó. Dù không trọn vẹn – dù chỉ là nửa thân trên – giờ đây đã tan vỡ. Và người ta thật sự thấy rằng, chỉ khi thứ gì đó mất đi người ta mới thấy nhớ nhung nó, lệ thuộc nó. Lệ thuộc tưởng như hai cái sự trần và truồng ấy tách biệt nhau . Tưởng như cái phần thân trên bay đi trong vô vọng để tìm kiếm hàng nghìn mảnh gương vụn vỡ kia. Và tưởng có một như khuôn mặt chẳng có ai để bầu bạn, nó âu sầu, nó thảm thiết, cũng chẳng ai hay. Đối diện với bốn bức tường của phòng tắm, người ta lẻ loi biết bao nếu không có gương để ngắm nhìn mình. Vậy mới nói, ở bất kì đâu, người ta cũng không được và không có quyền cô đơn. Con người sống là để kẻ khác ngắm nhìn.

Ta đã từng đọc một bài văn viết về cái gương. Đại khái người ta bảo gương nói lên sự thật, có gì ở người đối diện là gương nói lên hết, không có giấu giếm… Và người ta bảo, gương là một phẩm vật chân thành. Nó chân thành hay cái kẻ tự soi mình ấy là một thằng ngu? Cái gì cũng tin, cái gì cũng vơ lấy? Sáng ngày soi gương xem có gỉ mắt hay không. Hoặc cũng có thể, đó là một cái gương trong phòng khách, trong phòng ngủ, nó có vẻ chân thành, không nũng nịu vì người đối diện chỉ nhìn nó theo bản năng. Không có gì phải giấu giếm và che đậy, người ấy chỉ đặt bao nhiêu là câu nghi vấn mà chẳng tự sự lấy một lời. Thế cũng phải, vì người ta soi gương nhưng là đối diện với kẻ khác: với bạn bè, với khách khứa, với bao lời xì xụp vì dung nhan mình xấu trời.

Nhưng cái gương trong nhà tắm, người ta biết đối diện với ai nữa sau ngày dài. Người ta nhìn lại mình sau khi để nước xối tả tơi, giả vờ mếu, giả vờ cười, giả vờ quạu quọ để tự hả hê. Trên mặt gương, mọi thứ đều tương tự, duy có điều nó cho mình thấy nó chỉ là cái gương. Mở cửa ra là cái gương biến mất, mình lại trở nên hèn kém như thuở nào. Gương không đòi hỏi mình phải gắn bó mật thiết với nó, nhưng vẫn có sức hút đến lạ lùng. Vì đương nhiên, nó hiểu nó là ai, dễ dàng vỡ vụn đến mức nào. Không như những cái gương trong phòng ốc này kia, chúng tưởng chúng quan trọng lắm, nhưng chỉ cần nứt một đường, khuôn mặt không trọn vẹn, là người ta vứt đi ngay.

1.4.13

Hai nhân vật phụ

Kafka nói gì về những nhân vật phụ nhỉ? Phải rồi, ông cho rằng "Để làm gì cái lối coi thường các nhân vật phụ..." mà ông cảm thấy "thật gần gũi với họ" (Nhật ký). Nếu giả thiết rằng các nhà văn hầu hết đều khó có thể thoát khỏi hoàn toàn cuộc sống cá nhân, thì thấy thật dễ hiểu. Kafka luôn cảm thấy mình là một nhân vật phụ, với sự yếm thế, nhỏ bé và lúc nào cũng cố ngóc đầu dậy vớt vát sự thừa nhận của người bố (Thư gửi bố). Dĩ nhiên, Kafka luôn ý thức được sự yếu thế của mình mà từ đó, vô hình, ông cũng gia nhập vào phe những kẻ chỉ biết nhìn thế giới và không có cơ hội được lắng nghe.

Nhân vật thảm hại nhất trong "Điệu valse giã từ" là ai? Không, đó không phải là bất kỳ người phụ nữ nào trong số: Ruzena, Olga hay Kamila. Càng không phải là những vị "Chúa" giống đực như: Skreta, Jakub, Bertlef. Tất cả bọn họ đều được một vai trò gì đó trong vở kịch, được lên tiếng và được lắng nghe (dù miễn cưỡng). Trong mớ dây hỗn độn đan xen rắc rối đến mức chỉ một khẽ chạm cũng đủ khiến vỡ toang cả hệ thống, thì nhân vật phụ đáng thương Frantisek chỉ là một sự lạc điệu. Frantisek không được ai nghe, chỉ toàn bị xua đuổi. Và vì một nỗi ngây thơ thảm hại, Frantisek chỉ biết rình rập cô người yêu Ruzena mà cho đến lúc chết vẫn nằm ngoài vùng phủ sóng của gã.

Frantisek thực sự thảm hại, đến nỗi chính những sự thảm hại của gã cũng mang một nét mờ nhạt. Và Frantisek là một gã "khốn khổ" vì ngẫu nhiên (?) là kẻ đóng công tắc cho cái chết của Ruzena, để sau đó "lạc  lối cả đời như một nhân tố của bất hạnh". Có lẽ, cái dớp lớn nhất về sự bất hạnh của Frantisek là chính gã cũng không nhận thấy sự bất hạnh của mình. Gã mãi ngây thơ về tình yêu và lòng ghen tuông vốn không hề tồn tại.

Nhưng cho dù nhận thức được tất cả những điều đó thì liệu có tác dụng gì. Như Tisserand của Michel Houellebecq có thể là một nhân vật chính, song cũng là một kẻ bị cái dớp "phụ" ám cho đến chết. Tisserand trong "Mở rộng phạm vi đấu tranh" hoàn toàn nhận thức được sự thảm hại lẫn ti tiện trong con người hắn. Và cho đến một hành động phủ nhận (dự định giết kẻ khác) hắn cũng không dám thực hiện. Rồi hắn chết, không một chút dấu vết.

Các nhà văn có thể thực sự tàn nhẫn nếu họ muốn. Như Houellebecq tàn nhẫn phủ định nhân vật Tisserand bằng việc khiến hắn điên đảo tìm kiếm tình dục lẫn tình yêu trong vô vọng, hay như Kundera tạo nên Frantisek vừa ngốc nghếch vừa ngây thơ. Câu hỏi đặt ra là chúng ta nên làm gì với những kẻ vô vọng đó. Câu hỏi khác là chúng ta sẽ làm gì với bản thân mình, khi không thuộc vào cái phe "chúng ta" của câu trước. Thực sự khó trả lời.