Showing posts with label Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Việt Nam. Show all posts

29.11.13

Sinh trôi nổi, chết lênh đênh

Trong chương trình văn cấp 3 của tui có tác phẩm Một con người ra đời của Maxim Gorky, đại khái kể chuyện vượt cạn của chị kia trên đường đi. Thằng nhỏ sinh ra trôi nổi cùng hành trình của người mẹ. Chuyện không có chi, một đứa nhỏ sinh ra. Rồi nỗi vui mừng của một bà mẹ, nỗi sung sướng của anh chàng đỡ đẻ bất đắc dĩ cùng sự kỳ ảo của cuộc sinh sôi hòa làm một. Chuyện chỉ có vậy.

Lúc khác, hình như là năm ngoái tôi có đọc Sơn Nam. Trong truyện ngắn Một cuộc bể dâu có tả cảnh anh thanh niên mùa nước nổi không biết chôn xác người cha vừa chết ở đâu. Cuối cùng ràng vào một cái cối đá, thả xuống nước đặng nước ròng thì kiếm lại. Chuyện cũng chỉ  có vậy. Hoặc anh phải thả xác người cha xuống nước hoặc phải treo lên. Đằng nào cũng phải lênh đênh. Một đằng là trời, một đằng là nước.

Bữa nay tui lại đọc Chùm nho phẫn nộ. Một nhóm nông dân kia vì mất đất phải di chuyển đến California. Trên đường đi người ông trong gia đình ốm chết. Cả nhà phải lựa chọn, hoặc chôn ông trôi nổi, hoặc làm giấy tờ chôn theo nghi thức phải mất bốn mươi đồng. Mà mất nhiêu tiền đó thì chẳng đến được California. Cuối cùng họ tự chôn ông kèm theo một mảnh giấy bỏ trong chai thủy tinh ghi rõ thân phận. Chuyện là vậy.

Cái còn lại sau mấy chuyện đó là sống và chết. Ai cũng muốn sống và muốn chết yên lành một chỗ. Sinh ra trong một mái nhà yên ổn. Chết đi dưới một ngôi mộ tử tế. Cuộc đời trôi dạt lênh đênh chỗ này chỗ nọ là phần giữa. Không ai muốn phải cù bơ cù bất, đặc biệt là lúc sinh ra và lúc chết đi.

Tất nhiên là trừ mấy bạn đi Phượt. Mà chuyện này tui sẽ kể kĩ vào dịp khác.

10.9.13

Sách mới viết về quảng cáo

Thầy X được coi là một trong những giảng viên tốp trên của khoa tôi. Khoa tôi được xem là khoa tốp trên của trường tôi. Còn trường tôi nằm ở tốp dưới của hệ thống đại học nước nhà.

Thầy X bảo: Tôi căm thù những bạn nào dịch marketing là tiếp thị. Vì câu nói đó, tôi chỉ học mỗi môn của thầy, các môn khác tôi đều muốn bùng cho rảnh nợ. Đùa đó, tôi bùng vì chán học, thế thôi. Nói cho đơn giản, tôi bùng vì "bùng" là một trong những ký ức lãng mạn mạn duy nhất thời sinh viên. Cũng là đùa đó. Mấy thứ trên giảng đường bạn còn lạ gì. Toàn là một tụi giả Santa Claus. Nghĩa là Ho ho ho...

Hồi còn đi làm ở công ty đầu tiên trong đời, tôi nghe sếp bảo TTT có nói câu đại khái Quảng cáo là con điếm của nghệ thuật. Còn hồi ngồi nhét mông trên lớp, có lần tôi nghe một giảng viên trích dẫn sách của TTT, tất nhiên là không ghi chú nguồn để tụi khỉ đít đỏ tụi tôi tìm đọc, chiêm nghiệm cái sự hư ảo biến hóa khôn lường của tri thức con người. Hồi cuối là khi trích dẫn TTT trên này, anh T hỏi có phải TTT là TTT không :P

Nhớ lại hồi đọc Sự thật về quảng cáo, tôi thích tệ. Thích đến nỗi tôi và một Thuận gõ lại cuốn này. Tôi cũng la liếm chat với tác giả. Hờ hờ. Tôi phục sự la liếm thuần túy la liếm của mình.

Sách về quảng cáo của tác giả Việt Nam không nhiều. Hiện tại tôi chỉ biết Sự thật về quảng cáo (TTT và Thái Quân) viết hay, gọn gàng; Quảng cáo ở Việt Nam (Phi Vân) gọn gàng nhưng không hay lắm. Và cuốn mới nhất là Ý tưởng này là của chúng mình (Huỳnh Vĩnh Sơn) - tập hợp propos dưới cái tên Nhật ký sáng tạo bên Toiyeumarketing chấm com.

Cuốn mới này làm bìa rất đẹp. Hình tác giả được vẽ chớ không phải chụp, giống cuốn của Cầm Bùi :P

---
Note về cuốn khác:

9.9.13

Đọc Tạp văn Tràng Thiên

Trong lời tựa viết cho cuốn Đất nước quê hương (Võ Phiến, Lửa Thiêng – 1973), mà sau này được in lại có bổ sung với tên Quê hương tôi (Nhã Nam & NXB Thời Đại – 2012), Nguyễn Hiến Lê có nhận xét về thể loại tùy bút: “nó rất tự do, gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy, tưởng là dễ viết mà thực ra rất khó; phải có giọng thân mật, hấp dẫn như một câu chuyện thanh nhã giữa những người bạn đồng điệu lúc ngồi bên giàn hoa hay một ấm trà, lời phải tự nhiên, có duyên, nội dung phải thay đổi, có ý vị.” Với độc giả Việt Nam, sau bấy nhiêu năm, chúng ta hẳn cũng không cần gì hơn ở tác phẩm “một câu chuyện thanh nhã” như vậy. Đọc tùy bút, là nhẩn nha trò chuyện, là thưởng thức một cái tôi thầm kín trong từng nếp nghĩ, nếp nhìn, là quan sát mọi khía cạnh của sự vật ngẫu nhiên một cách tinh tế.

Võ Phiến (có nhiều bút danh khác như Tràng Thiên, Thu Thủy) là cây bút bậc nhất miền Nam thời 1954-1975 về thể loại tùy bút. Ông được Nguyễn Hiến Lê đánh giá là “sâu sắc như Nguyễn Tuân mà tự nhiên hơn, dí dỏm hơn, đề tài phong phú hơn, đa dạng hơn” (Hồi Ký Nguyễn Hiên Lê – NXB Văn học – 2006). Năm 2012, cuốn tạp bút Quê hương tôi được in, dường như đã giúp độc giả tìm lại được những khía cạnh mất mát trong văn hóa truyền thống dân tộc. Từng lời ăn tiếng nói, mỗi phong tục tập quán, đến những suy nghĩ của người Việt được đong đếm, phân tách rõ ràng. Sau hơn một năm, tập Tạp Văn Tràng Thiên được xuất bản mang đến cho độc giả cái nhìn rõ nét hơn về tác phẩm và con người của tác giả “vang bóng một thời” này.

Tạp văn Tràng Thiên (Nhã Nam & NXB Thời Đại) bao gồm 20 bài viết thuộc nhiều thể loại khác nhau như tùy bút, phê bình, đối thoại, lời tựa sách, phỏng vấn được thực hiện từ những năm 1960 đến năm 2000. So với cuốn Quê hương tôi chủ yếu nói về khía cạnh văn hóa, xã hội Việt Nam thì tập Tạp văn này có nội dung đa dạng hơn. Ngoài phong tục tập quán, ngôn ngữ Việt, tập Tạp văn dành ra không ít trang tập trung vào khía cạnh văn chương về việc thưởng thức (đọc) cũng như tạo dựng (viết, dịch) một tác phẩm văn học.

Những bài viết trước năm 1975, cũng với đề tài giống trong Quê hương tôi, Tràng Thiên khảo sát các mảnh ghép nhiều mặt của văn hóa Việt như ngôn ngữ (Tiếng nói và dân tộc tính, Rắc rối cái tiếng đứng trước, Khẩu ngữ), trình diễn (Bài chòi) hay chuyện ăn chuyện đọc của người Việt (Ăn và đọc, Yêu và đọc). Sau năm 1975, có nhiều vấn đề khác được Tràng Thiên bàn đến như chuyện dịch thuật (Dịch thơ, Thơ dịch), một số tác giả ông yêu thích (Tùy bút Vũ Bằng, Thơ Phạm Thiên Thư) hay ba bài phỏng vấn cuối sách ông dành để nói về sự viết, sự đọc ở nước ngoài.

Dù bàn về vấn đề gì, tựu trung lại ở các tác phẩm của Tràng Thiên chính là chất tỉ mỉ, tinh tế nhưng cũng không kém phần dí dỏm, hài hước, đôi chỗ châm chọc sâu cay. Như ở bài Thơ dịch, Tràng Thiên ví ý thơ là “xương”; ngôn ngữ, nhịp điệu thơ là “thịt”. Dịch thơ chỉ có thể dịch ý (xương). Và “Thơ dịch không phải là thơ”. Ông kết thúc nhận định bằng một đoạn giễu nhại: “Tôi nghĩ đến ngày Truyện Kiều được dịch sang đủ 160 thứ tiếng của các nước trong Liên Hiệp Quốc, ngày xương cốt Kiều tung tóe đó đây!”

Tràng Thiên có cách mở đầu và kết thúc vấn đề nhẹ nhàng nhưng thâm trầm. Bao giờ ông cũng khai cuộc bằng một quan sát tưởng như thoáng qua, để rồi kết luận được nâng lên qua hàng loạt suy đoán, khẳng định nhạy bén. Nếu như ở Quê hương tôi, bạn đọc có thể quen với những cặp đôi bài viết tương hỗ cho nhau như: Chiếc áo dài và Lại chiếc áo dài, Chửi và Chửi tục, Không cười và Không cười thế mà hay, Anh Bình Định và Người Bình Định... thì trong tập Tạp văn Tràng Thiên này, bạn đọc dễ dàng gặp lại cách bố trí đó với bộ ba: Ăn và đọc, Yêu và đọc, Ăn và yêu hay cặp đôi Thơ dịch và Dịch thơ. Cũng chuyện ăn, chuyện đọc, chuyện trai gái yêu đương, Tràng Thiêng đưa đôi mắt nhuần nhị của mình thẳng vào một thói quen, một cá tính, hay rộng hơn là một nền văn hóa. Ánh mắt ấy tuy sắc bén nhưng không giấu nổi những xót xa, nuối tiếc trước sự dễ dãi, thiếu cân bằng trong tác phẩm và con người đương đại.

Cũng khác với tập Quê hương tôi, Tạp văn Tràng Thiên lần này không còn đơn thuần chỉ là cái nhìn về quá vãng. Trong ba bài phỏng vấn cuối sách, Tràng Thiên chia sẻ chuyện cuộc sống và sáng tác của ông tại hải ngoại sau năm 1975, sự thay đổi cách đọc thiên về tốc độ của độc giả hay sự phát triển của các phương tiện giải trí đang đè bẹp nền văn học cố hữu. Theo ông, mọi thứ đang trở nên nhanh hơn, gấp gáp hơn chứ không còn nhịp nhàng chậm rãi, dù là chuyện viết hay chuyện đọc.

Với tư cách là một đại diện lớn cho văn học miền Nam trước 1975 cũng như là nhà văn có những đóng góp cho sự phát triển của nền văn học xa xứ, Tràng Thiên mang đến cho người đọc một mảnh ghép quan trọng của văn học nước nhà. Đọc Tạp văn Tràng Thiên, một phần nào đó, là nhìn vào con người và văn học Việt Nam, cả xưa lẫn nay, cả trong nước lẫn ngoài nước.

(Bài đăng trên Tuổi trẻ cuối tuần 13/10/2013)

14.4.13

"Đỏ" và những lặng yên

Mẩu này viết lâu rồi mà chắc xài không được nên post lên blog phủi bụi :P
.........
Đỏ (Nguyễn Dương Quỳnh, Nhã Nam và NXB Lao Động) bắt đầu bằng sự bất lực với việc tìm kiếm một chỗ trọ “tôi không tìm được chỗ thuê nào rẻ hơn”.  Rồi đột ngột, Đỏ kết thúc trong một bất lực tìm kiếm khác, dõi theo những cuộc đời “chẳng bao giờ cắt nhau qua nữa.” Cái còn lại của sự chia cách kia là một dư âm bền bỉ và rõ ràng.

Dư âm trong Đỏ - truyện ngắn đầu tiên trong một Đỏ gồm hai truyện chính là sự yên lặng. Đó là cái yên lặng của không gian bên ngoài với dòng sông “không thấy bóng dáng đứa trẻ nào,” của không gian bên trong căn phòng mà “ánh trăng không lọt vào được.” Đó là cái lặng yên đáng sợ của “cánh rừng không có gió, mùa thu không có gió.” Và là sự bất động của lòng người, sự ý thức được một cái gì nhỏ bé nhưng  chẳng phải dành cho mình: “tôi chợt nhận ra nó không nhìn tôi”,  “ông ta không quay lại để thấy tôi vẫn đứng lặng bên cột đèn…”, “…tiếng nói ấy dịu dáng quá mức, thực buồn sao nó không dành cho tôi.”

Đỏ xoay quanh mối quan hệ giữa một du học sinh Việt Nam với một người đàn ông Trung Hoa, một đứa bé - con của ông ta, và một sinh viên mỹ thuật bỏ học để trở thành thợ làm bánh mì. Nhân vật “tôi” của Đỏ không biết tiếng Hoa và sống một cách lặng lẽ trong khu phố người Hoa. Những nhân vật trong Đỏ không hoặc ít khi lên tiếng. Bằng cách này hay cách khác, họ cố hiểu nhau trong câm lặng. Không gian của Đỏ tràn ngập những phủ định, “không” màu, “không” có sự chuyển động, “không” hiểu và “không” thuộc về nhau. Chính những phủ định tưởng chừng như lỏng lẻo đó đã cố kết cuộc đời họ lại trong một nỗ lực phi ngôn ngữ. Sự thấu hiểu bị lệ thuộc vào cảm giác. Phóng chiếu theo đó, những nhân vật dường như đang đứng yên và quan sát lẫn nhau thay vì cố gắng đến với nhau. Mọi thứ khả dĩ trở về trạng thái bình lặng và tự nhiên như nó vốn có.

Chúng ta thường đánh mất đi nhiều tự nhiên bằng việc lọc đi dữ kiện. Đứng trước cái mất mát tính ngây thơ tất yếu, hoặc ra ngoài vòng xoay, từ chối dữ kiện và trở thành một kẻ thờ ơ. Hoặc như Đỏ, va vấp và mòn mỏi, loay hoay không muốn đi đến tận cùng, và do đó giữ được những ngây thơ tưởng chừng như đã tiêu biến từ lâu. Như đứa trẻ trong Đỏ, từ chối những quả táo, hối tiếc, rồi bỗng chốc vui trở lại với một mảnh vỏ táo. Như trong Đỏ, có ai đó đã gọt biết bao nhiêu quả táo, chỉ để mùi táo lưu mãi trên tay.

Đỏ có hai tuyến truyện. Một với thứ ngôn ngữ câm lặng đến dằn vặt (thông qua những hành động bất lực để bảo vệ đứa con của người cha). Một với sự loay hoay tuổi trẻ dường như đã đi đến hồi kết (xoay quanh câu chuyện của người thợ làm bánh mì). Nếu như tuyến truyện đầu là một cõi xa xăm để nhân vật tôi nhìn thấy tâm hồn mình trong những cách chia, thì tuyến truyện sau dường như lại là một đoạn kết có hậu. Bằng những trao đổi, nhân vật tôi, qua một hình ảnh mạnh dạn và lạ lùng khác (người thợ làm bánh), đã xóa đi lớp phông nền mờ nhạt của những ẩn ức nơi khu phố ngươi Hoa câm lặng. Đó không phải là một câu trả lời cho tất cả mọi chuyện. Đó có vẻ như, một sự sợ hãi đã đi đến giới hạn của nó, tìm cách thoát ra, bằng ngôn ngữ, bằng chuyện trò, bằng mùi bánh mì và những ngày mưa không dứt.

Sự im lặng vẫn còn đó trong Đỏ. Nếu không có sự im lặng, thế giới của Đỏ hẳn đã vỡ nát ra thành trăm mảnh rời rạc bởi những cố gắng xóa nhòa khoảng cách. Chính những im lặng nhẹ nhàng và dằn vặt đó là mối dây ràng buộc giữa con người với con người. Bằng thứ im lặng điềm tĩnh, có chủ ý và rất kiên trì, Đỏ đã tìm thấy sự bình thản (dù không tuyệt đối) trước những xa rời, lạc lõng giữa cuộc đời. Và cố gắng cư xử để tâm hồn không dần khô cứng đi trong một thế giới thiếu vắng những thanh âm vang vọng nhưng vẫn mãi ồn ào, tất bật.

Còn một truyện ngắn khác cũng xuất hiện trong tập này. Khác với Đỏ, đó là một Nước xốt cà chua có những quấn quít xinh xắn của tự thuật, đối thoại và rất nhiều âm nhạc. Nhưng  khi câu chuyện đã im lặng một cách có chủ ý sâu đến vậy, việc thốt ra thành lời dễ đưa người đọc đến sự lạc lõng khó tránh được. Và thế, bạn đọc hẳn có quyền lờ đi một nửa của Đỏ, để giữ những câu văn khỏi bật thành lời, thành thanh âm, hay bất cứ điều gì khác.
.........
Link: Đỏ được viết lúc tác giả học năm nhất đại học, Nước sốt cà chua được viết năm lớp 11. @@. Còn năm nhất đại học tới giờ tớ toàn ngủ, ngủ, ngủ và ngủ. Những nỗi buồn cũng trôi theo từng cơn ngủ.

24.2.13

[Đọc] Hương rừng Cà Mau

Phim Mùa len trâu của đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh được chuyển thể từ truyện ngắn trong tập Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam. Nhưng không phải từ một truyện Mùa len trâu như Wikipedia nói, mà là hai truyện, có thêm truyên Một cuộc bể dâu cũng ở trong tập này. Như thế đạo diễn phải ghép hai câu chuyện làm một. Tinh tướng mà nói, hồi coi phim này, tôi thấy đoạn chuyển tiếp không mượt lắm, nhưng không buồn thắc mắc, vì phim hay.

Trong phim, truyện Mùa len trâu hay Một cuộc bể dâu tất nhiên đều góp phần vào cùng một việc: khắc họa con người Nam Bộ xưa. Mùa len trâu chịu trách nhiệm "phần sống," Một cuộc bể dâu lãnh "phần chết". Sơn Nam đã vô tình hay hữu ý khi xếp hai truyện ngắn này liên tiếp trong cuốn sách của mình, "sống" trước, "chết" sau. Bộ đôi đó là một kết cấu trọn vẹn cho ám ảnh "Nước" trong Hương rừng Cà Mau. "Nước" trôi dạt từ sự sống tới cái chết, lãng mạn và khắc nghiệt.

Trên mạng, có nhiều anh chị thích Tình nghĩa giáo khoa thư cũng trong tập này. Nhưng đó là một truyện dường như thoát khỏi bức phông nền đời sống của miền Nam sông nước (đặt miền nào thì cũng hay.) "Nước" trong Tình nghĩa giáo khoa thư hay như một vài truyện khác trong Hương rừng Cà Mau là thứ nước ngăn trở, cách chia con người với con người. Đó là thứ nước không chảy, như một dãy núi cao, một hòn đá lớn, nước đứng im lìm. Chỉ có "Nước" trong Mùa len trâu là sống, sôi động và gan góc. Sự sống càng tuôn chảy thì cái chết càng lạnh lẽo và khắc nghiệt, nặng trình trịch như cái cối đá chôn người trong Một cuộc bể dâu.

Nguyễn Hiến Lê viết trong hồi ký của mình rằng muốn hiểu miền Nam cần đọc ba tác gỉa: Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc và Hồ Biểu Chánh. Tạm thời tôi mới chỉ đọc Sơn Nam ( cũng mới chỉ đọc Hương rừng Cà Mau), nhưng có lẽ đã ngờ ngờ ra cái hình ảnh mịt mờ của một Nam Bộ xưa. Đó là xứ sở của sự trôi dạt vĩnh viễn trong giới hạn con người, từ lúc sinh ra cho đến lúc lìa đời.