Showing posts with label Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Việt Nam. Show all posts

14.12.12

Một truyện ngắn hay ho về chiến tranh

Có một truyện ngắn trong cuốn Những thứ họ mang (Tim O'Brien) làm tôi thích thú đến rùng mình.

Thông thường với những gì tôi đã học và đọc, chiến tranh được miêu tả theo hai cách chủ yếu. Kiểu thứ nhất là dạng anh hùng chủ nghĩa. Một công dân mất mát người thân trở nên căm thù giặc, rồi thành chiến sĩ chiến đấu vì sự nghiệp vĩ đại của đất nước. Kiểu hai bóc trần những mất mát của chiến tranh dưới một phương diện cá nhân nhất, chiến tranh trong đó là nguyên nhân của những vụn vỡ về tinh thần không gì xoa dịu nổi. Nhưng truyện ngắn dưới đây dường như không đi theo cả hai cách đó. Hoặc nếu có, thì cũng tinh tế và đau đớn hơn nhiều.

Người tình sông Trà Bồng kể về một tình huống đặc biệt. Khi một lính Mỹ bạo dạn đem bạn gái của mình đến chỗ đóng quân tại Việt Nam. Có vẻ như đó là một mối tình lãng mạn nếu cô gái kia không dần thích nghi một cách mãnh liệt với cuộc chiến. Để rồi vào một đêm cô bỏ đi khỏi doanh trại anh lính Mĩ xui xẻo để qua một lực lượng khác, một lực lượng tuần đêm. Nhưng câu chuyện không dừng ở tại đây, cái kết mang cô gái ra khỏi lực lượng đặc biệt, biến cô thành một thứ sản phẩm tinh khiết của chiến tranh. Số phận của cô kết thúc một cách bí ẩn trong bóng tối của những cánh rừng bên sông Trà Bồng.

Câu chuyện được kể lại bởi một lính Mĩ khác. Tất nhiên, chính nhân vật "tôi" trong truyện cũng phải thừa nhận tính huyền ảo của nó. Nhưng dù thế nào, đó cũng là một câu chuyện đầy cảm hứng. Cảm hứng ở chỗ chiến tranh không chỉ được nhìn nhận như một nhân tố phá hủy mà còn như một nhân tố "xây dựng" tâm hồn con người. Hoặc nếu không muốn dùng từ "xây dựng", cũng có thể xem cuộc chiến như một thứ lực có khả năng bóc trần những bản năng sâu xa nhất. "Với Mary Anne Bell (tên cô gái), Việt Nam hình như có tác dụng của một thứ ma túy mạnh", như một thứ kích thích với "endorphin" và "adrenalin", mà không có nó cô sẻ trở nên "đói khát".

Không có chuyện thắng thua, đau đớn. Cũng không có chuyện đúng sai, đạo đức gì ở đây cả. Tôi cũng không thích cách tác giả nói về Mary Anne với cụm từ "vấy bẩn". Vấy bẩn là chuyện của sự dính dớp vô tình hay cố ý. Còn ở đây, tất cả đều diễn ra bên trong mỗi người. Chiến tranh chỉ làm động tác gạt bỏ mọi thứ thường tình vẫn ràng buộc một tâm hồn, và biến tâm hồn đó thành thứ thực tế mà nó đã là. Tôi tự hỏi Mary Anne có cảm thấy đau đớn như một người đói thuốc không, có cảm thấy mình bị biến dạng và méo mó trong mắt mọi người không. Tôi nghĩ cô cảm thấy tự do, tự do với máu lửa với chết chóc, và không còn gì có thể níu kéo cô nữa. Thứ tự do bản năng đó mới là điều đáng sợ và có sức phá hủy bất kì tâm hồn thánh thiện nào.

Khi mọi thứ đã vượt ra ngoài tầm với của đạo đức, của đúng sai để tìm một con đường khác đến trái tim và khối óc, thì còn gì nữa để bàn luận. Chiến tranh không phải là chuyện để bàn luận, cứ ra ngoài đường, hành xử bản năng nhất với một thằng người bất kì. A ha, và ta đã có ngay một cuộc chiến.

6.11.12

Đọc Và khi tro bụi và Mưa ở kiếp sau



Đoàn Minh Phượng vừa là một nhà văn vừa là một đạo diễn phim. Có thể chính điều đó tạo cho tác phẩm của chị luôn có một sức cuốn hút về thị giác. Trong hai cuốn tiểu thuyết Và khi tro bụiMưa ở kiếp sau, ấn tượng thị giác đó được khắc rất rõ trong từng đường nét của mạch truyện, trong không gian và sự cuốn hút của một cái tôi rất riêng. Những cắt cảnh linh hoạt, những chương ngắn với đầu đề tạo cảm giác mênh mông, những tình tiết bất ngờ là nét riêng của cái tôi đó. Chúng không những không làm tác phẩm của chị giản đơn hơn, mà còn góp phần thể hiện một cách không nhàm chán những tư tưởng, mà hẳn không phải ai cũng nắm được. Tôi cũng chịu, không thể cắt nghĩa rõ ràng, chỉ có cảm xúc còn lại như vị ngọt lành lạnh của chút đường trong tủ đông, cuối một ngày hè.

Cái mát lạnh trong Và khi tro bụi nhẹ bẫng và êm ái tựa như chính tên cuốn sách. Một cô gái trẻ đi tìm cái tôi của mình, để được chết trong sự rõ ràng của bản thể. Cuốn sách mở đầu bằng mất mát và vụn vỡ, như một trò chơi xếp hình hàng vạn mảnh trắng tinh khôi. Nhân vật nữ chính đi trong vô hướng, xoay chuyển, bấu víu vào những sự thật khác nhau dường như không liên quan gì đến mình. Rồi từ đó, tìm ra chút xíu thực tại, không phải để níu kéo sự sống mà để tìm đến cái chết trong chính đáng và chủ động. Muốn chết là một điều quan trọng. Và lý do để chết cũng quan trọng không kém.

Và khi tro bụi mang trong mình màu sắc u tối của một nỗi buồn chết người. Nhưng vì  sự “chết người” đó được kéo đi lê lết trong suốt chiều dài cuốn sách, “chết” đã không còn là một nỗi sợ. “Chết” trở thành một lý do của “Sống”, hoặc song hành với “Sống”. Cái chết được nhắc đi nhắc lại, song song với nó, nỗi buồn được nhân lên, sự vô cảm tăng tiến, tất cả những cảm xúc tiêu cực được đẩy lên tới cùng một cách dứt khoát. Nhưng mọi cảm xúc đều không lên được “đỉnh”, có một cái gì đó ngăn trở lại. Để nhân vật nữ chính cứ mãi kiếm tìm, tìm trong cuộc đời mình không xong, chị loay hoay tìm trong cuộc đời người khác. Tìm, rồi cắt nghĩa, muốn tham gia vào những sự thật của người khác, nhân vật nữ chính dần quên đi mình. Hoặc có thể, chị đang tìm đến mình, một cách vô thức, e dè nhưng mãnh liệt và quyết đoán.

Việc làm mờ đi các ranh giới tạo cho cuốn sách một không gian rộng lớn. Nhân vật được tự do di chuyển giữa thực tại, quá khứ và thời gian được nới ra. Có lẽ vì thế, cuốn sách là một tổng thể hỗn độn nhưng ngăn nắp của những suy tư và hành động. Đây hẳn là một cuốn sách buồn, nhưng không đến mức bi lụy. Đây cũng là một phiên bản của sự cô đơn, nhưng không phải không có lối thoát. Vì xét ra, nhân vật vẫn được hành động, vẫn được bao bọc trong những suy nghĩ. Nhân vật vẫn có “ý chí”, mà trong tác phẩm tiếp theo của nhà văn, nơi có “ý chí” thì nơi đó không phải là địa ngục.

Nếu chỉ đọc Và khi tro bụi, có lẽ ta chưa thể cảm nhận hết kiểu viết đầy các hiệu ứng thị giác của Đoàn Minh Phượng. Chỉ khi đã đọc Mưa ở kiếp sau, việc đọc văn của chị mới trở thành một cơn ghiền hoang dại được thúc đẩy bởi sự tò mò. Nếu phải chuyển thể tác phẩm này thành phim, hẳn nó sẽ thành một bộ phim ăn khách bởi những tình tiết và hình ảnh mà Đoàn Minh Phượng đã tạo nên. Nhưng nếu phải so sánh giữa hai cuốn sách, tôi vẫn sẽ chọn Và khi tro bụi, chứ không phải Mưa ở kiếp sau. Một khoảng trời xa lạ kèm với sự cô đơn và phiêu dạt sẽ gia giảm cuộc sông của tôi tốt hơn là những hồn ma bóng quế. Cho dù thế lực siêu nhiên trong Mưa ở kiếp sau đại diện cho điều gì, cho một triết thuyết hay một lý tưởng, nó cũng không đủ sức thay thế được sự nhẹ nhàng và mềm mại của Và khi tro bụi.

Các tư tưởng Phật giáo phảng phất trong Và khi tro bụi trở nên rõ ràng và thành một phần cốt yếu của Mưa ở kiếp sau. Các nhân vật bị đưa đẩy trong những mâu thuẫn căn bản: tha thứ hay không tha thứ, quên lãng để sống tiếp hay lật lại sự thật bị chôn vùi. Mỗi nhân vật đều có cách chọn riêng, nhưng tất cả dường như đều dang dở. Họ yếu đuối, Đoàn Minh Phượng dường như thích những sự yếu đuối. Đến cái đấu tranh, cái tàn nhẫn và lạnh lùng cũng mang sắc thái yếu đuối thuần khiết. Con người và câu chuyện có vẻ thật, nhưng cảm xúc của những câu chuyện và con người trong Mưa ở kiếp sau được phủ lên mình một lớp màng mỏng không rõ ràng, và khó nắm bắt. Có thể đó chính là sắc thái tôn giáo trong câu chuyện, cũng có thể đó là suy tư của tác giả, hay một sự bất lực trong việc giải quyết tình huống theo một cách đặc biệt nào đó. Nhưng dù là gì, lớp màng vô minh không thể chạm tới đó cũng có một sức hút, một sức quyến rũ riêng không gì thay thế được.

Trong chia sẻ trên một tờ báo, Đoàn Minh Phượng miêu tả mình có một cách viết “khá lạnh”. Chị không “buông thả” ngòi bút. Có lẽ cá nhân tôi thích cách viết đó, và có lẽ cũng vì thế nên tôi không thể quá hứng thú với những hận thù mịt mù trong Mưa ở kiếp sau. Viết về hận thù mà không được hận thù, không được thoải mái căm hờn và oán ghét thì viết làm sao ? Tôi thấy nhà văn thật giỏi quá :)
------
Hình trên: Thấy trên internet thường so sánh Và khi tro bụi với Siddhartha của Hermann Hesse. Mình cũng rất thích cuốn này :)

30.4.12

xuân từ chiều hay là Xuân Từ Chiều



Tôi mượn được quyển sách nho nhỏ nhẹ nhẹ xinh xinh này ở nhà một thầy dạy Toán. Không đọc trang nào trước mà tôi mượn đơn giản chỉ vì cái tên thơ thơ cùng với cái bìa tượng tượng. Mở sách ra đọc thì lại thấy lê thề và dài dặc vô cùng. Tất nhiên, đó không phải là một điều không tốt.


”Xuân Từ Chiều” hoặc “xuân từ chiều”, chả biết tôi có nên viết hoa cái tựa sách không vì đây vừa là tên nhân vật lại vừa có một ý nhất định nào đấy thì nhà văn Y Ban mới cho nó lên đằng đầu như vậy. Nhưng đọc khoảng vài trang và biết được thời cuộc trong lời kể tôi nghĩ rằng xuân từ chiều chắc là kiểu như có chút vui, có chút niềm tin và hi vọng nào đó trong cái man mác buồn của trời chiều. Và chắc cái mùa xuân tươi đẹp ấy khởi đầu tư khi ngày sắp kết thúc. Thế là mọi sự chuyển sang một giai đoạn mới tươi đẹp hơn.

Bối cảnh của tác phẩm là khoảng thời gian bao cấp, thời gian mà đất nước đang đổi mới một cách “ác liệt”.Gần đây nhất, tôi cũng có đọc một quyển sách kiểu này là Ăn mày dĩ vãng của Chu lai nhưng cuốn đó sền sệt yêu với đương nên cũng chẳng biết được gì nhiều. Vì thế, Xuân từ chiều chính là cuốn sách đầu tiên mà tôi đọc được về cái thời bao cấp này. Thật ra, đây là một tiểu thuyết nho nhỏ dễ đọc (tất nhiên không hẳng là ba xu như cô Y Ban trả lời lúc phỏng vấn) và dễ nắm bắt dù có lướt lướt qua như phóng máy bay.

Mở đầu sách như lời kể của những bà nội trợ rảnh rang ngồi tám những chuyện bá láp về người đời. Nhân vật trong câu chuyện của các bà là Xuân – một cô nuôi dạy trẻ về làm dâu ở khu tập thể từ năm 19 tuổi. Từ đó kể về môi trường sống của Xuân. Đó là một môi trường quái gở (là vì tôi nghĩ thế khi đang sống trong thời đại “thừa mứa” ngày nay) với những đứa trẻ không có đồ chơi đến mức vớt từ cống nước lên bao cao su để thổi bong bóng làm trò tiêu khiển, những căn nhà chật hẹp đến nỗi vợ chồng làm chuyện riêng sát mặt con cái rồi để nó “nhắc nhở” cho. Đó là nơi mà người ta sinh con không thành hoặc nạo thai như ngóe, trẻ em đưa đi chôn được Xuân và cô em nhỏ hơn là Từ gọi là "búp bê" (tôi thấy hơi rợn). Tất cả những điều đó tạo thành một giọng văn vừa mang vẻ buồn thay vừa mang vẻ châm biếm.

Đọc đoạn đầu, tôi nghĩ Xuân chính là nhân vật chính, mọi sự là xoay quanh cô này. Mà đúng thế thật, xung quanh cô còn có nhiều người phụ nữ khác. Đó là Từ và Chiều, nếu không tính đến những người phụ nữ có thân phận nhỏ nhặt trong tác phẩm như người đàn bà điên và Yến – một cô gái hay chơi đánh đề. Sau bao nhiều năm, cô em nhỏ Từ của Xuân đã lớn và có gia đình. Câu chuyện rẽ sang một hướng mới. Câu chuyện về gia đình Từ.

Tôi nghĩ có lẽ so với hai người chị lớn kia thì Từ vẫn còn thuộc lớp trẻ chán. Là lớp người cảm nhận được sự thay đổi của thời cuộc, cảm  nhận được sự bất ổn từ nhả cửa đến xã hội nhất, là người có một hoàn cảnh gia đình “phổ thông” nhất. Khi những bà chị kia đã ổn định thì cô hãy còn quá non trẻ. Vì thế mới có nhiều chuyện lê thê hơn để bàn. Đôi khi kể chuyện Từ thì tác giả xen vào mấy chỗ nói về Xuân và Chiều, những người này như đóng vai trò để người đọc so sánh hoàn cảnh của các “bà cô” với nhau xem ai khổ hơn ai.


Thời thế thay đổi, xã hội phát triến hơn và nhất là giữa phố thị đương lên kia thì đầy nhóc điều ra để nói. Từ kiếm việc lam khó khăn trong thời buổi giảm biên, ra lề đường bán hàng thì phải đút tiền cho mấy quan đi phạt người lấn chiếm lề đường. Chồng Từ không sang nước ngoài không được vì cái kiểu dân mình cấm vận dân mình. Sau đó thì lại đến chuyện xin cho con đi học cũng đầy trắc trở. Nhưng dù long đong như thế, Xuân từ chiều cũng không phải là một câu chuyện buồn. Khi tôi nghĩ sự đầy đau khổ thì lại có chuyện vui thế chỗ. Chính vì vậy mạch chuyện liên tục với những chi tiết rất hiện thực và không bi lụy.


Nhưng bi lụy nhất có lẽ là chuyện của cô Từ, một người phụ nữ vì chồng con cả đời rồi cuối cùng khi xã hội thay đổi thì bị chính gia đình mình đạp lại trong bóng tối cô quạnh trước cuộc đời tươi sáng, linh động ngoài kia.


Tôi nghĩ chuyện của Xuân thì lại là chuyện tình lãng mạn và ít thật nhất trong Xuân Từ Chiều, thật khó để hai vợ chồng cô hạnh phúc được trong cảnh hiếm muộn. Nhưng rồi chồng cô mất đi thì chuyện của Xuân cũng chưa phải là trọn vẹn. Mà ở ba người đàn bà này, có người nào được lấy làm chuẩn mực cho người nào về cái trọn vẹn ấy đâu. Dù đôi lần Từ ghen tỵ với Xuân nhưng cuối cùng cô cũng đã thỏa mãn với những gì mình đang có với cuộc sống bình thường ổn định của bản thân.

Tôi không thích đem tình trạng của ai thì khổ hơn ai trong ba người đàn bà này. Bởi vì cuộc sống thì không chọn lựa được nhiều mà chỉ chọn điểm khởi đầu mà thôi. Sở dĩ cuộc sống của họ trắc trở và kết thúc thế nào thì cũng là do điểm lựa chọn và cách duy trì sự lựa chọn ấy mà thôi. Mà có ai biết những thứ tốt xấu xảy đến thì sẽ đưa con người đi đến đâu đâu nào.

Tôi thấy mình nói cũng nhiều và cũng đã đến lúc kết thúc rồi. Nhưng tôi nghĩ rằng nếu những ai đọc Xuân tư chiều thì sẽ hơi thất vọng với cách kết thúc hơi lên gân của nhà văn. Tôi muốn một câu chuyện nhỏ nhắn như thế này phải bình thường hơn một chút. Và nếu tác giả không rẽ sang trang khác mà để lối viêt không xuống dòng tiếp diễn như kiểu mấy bà cô tám chuyện ngoài đường thì sẽ thú vị hơn. Sẽ lê thê và thiệt tình hơn nhiều.Và có lẽ tôi cũng hơi chủ quan khi nói vậy.

30.3.12

Đọc Quẩn quanh trong tổ


Đọc để biết người trẻ lang bạt ngày nay nghĩ gì.
Tôi dùng từ lang bạt, vì đúng là đời Phan An lang bạt, di chuyển và rối rắm, xếp chéo nghiêng tréo que vào nhau (nhìn cái bìa thì suy ra vậy, "hihi"). Tôi cũng nghĩ "chính là đời Phan An", vì anh vẽ minh họa đẹp, viết tốt mà lại đang "làm mướn" bên lĩnh vực lập trình. Vậy có thể, cái lịch sử xê dịch từ Ngoại thương sang Kiến trúc, rồi bỏ nhảy để học lập trình bên Aptech của "anh" trong truyện, chắc là "anh" ngoài đời. (Để tươm hơn làm ơn tra Gúc gồ, "hihi"). Có lẽ học nhiều thế, cho nên anh viết kiểu của người học nhiều, nghe nhiều, chơi nhiều, sống nhiều, buồn nhiều. Hay chí ít, không buồn nhiều thì cũng nghĩ nhiều, và trăn trở lắm lắm.
Đọc Quẩn quanh trong tổ sẽ dễ liên tưởng đến SBC là săn bắt chuột. Cũng giọng văn châm chích như nọc ong, cái lưỡi dẻo quẹo liếng thoắng liên hồi mà moi móc, mà chọt chỉa, cũng những đả kích chua cay nhưng không hề thô, tục. Mà có tục một tẹo cũng là cái tục vừa vỗ tay đánh đét, vừa rung đùi mà cười hả hả đầy khí phách. Có thể chấp nhận được. "Hihi".
Viết về mấy vấn đề xã hội nóng không thiếu người viết, báo có, blog có, văn chương có. Nhưng Phan An viết có kiểu riêng. Nói như ai đó mà tui quên mất "rầu" (giọng Bình Định), thì Phan An không hẳn là thích triển làm mấy thứ rác rưởi xú uế và ô tạp. Đọc những dòng trong trang viết của anh, ngoài mấy thứ kiểu "xin thề luôn mu tôi có lông", thì không thiếu những xót xa ngược, về lớp người có thân phận nghèo khổ, tứ cô vô thân trong xã hội. Đó cũng là kiểu viết lộ rõ những bất lực, những cam chịu một cách thẳng thắn chứ không đạo đức giả dạy đời "ăn khoai lang xắt lát mà nói chuyện Các Mác - Lê Nin. Đó là giọng điệu thành thực, phô ra hết, nói ra hết như rút cả tâm can mà cứ giống bông phèn, đùa bỡn.
Riêng một điều tôi không thích ở Phan An, đó là giọng kẻ cả. Cái giọng "người trên" đó, nếu xét qua SBC là săn bắt chuột thì hoàn toàn không có. Hồ Anh Thái có phán xét, nhưng không hề lộ mặt. Còn Phan An thì chỉ tận tay, day tận trán mà mỉa mai cay đắng. Có lẽ vì thế nên sẽ nhiều người không thích Phan An (lắm). Riêng tôi, đọc chơi cho biết cũng chẳng tổn hại đến ông thủ tướng bà bộ trưởng nào. Vậy nên đọc thôi