Showing posts with label paul auster. Show all posts
Showing posts with label paul auster. Show all posts

19.1.14

Đọc Khởi sinh của cô độc

 Khởi sinh của cô độc không phải là một cuốn sách hồi hộp gay cấn nhưng người đọc luôn luôn cảm thấy mình bị cuốn hút vào nó và không thể rời mắt được. Đó có thể là một cách nói quá cũ kĩ khi viết về một cuốn sách. Nhưng bằng sự thấu hiểu của mình, Paul Auster đã tạo nên một sự tin cậy nơi người đọc. Dù ông có viết về sự cô độc của người cha bằng ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba.Đúng hơn, ta cũng không nên chia cuốn sách một cách quá rạch ròi như trên. Vì như cái tên Khởi sinh của cô độc, tác giả không chỉ đi tìm nơi sự cô độc đến, nó đến như thế nào và tồn tại ra sao, mà còn ngầm chỉ ra cách chấm dứt sự cô độc. Vì thứ gì có khởi sự thì cũng có hồi kết thúc, dù là một thứ tưởng chừng vô hạn như sự cô độc.

Sự cô độc tồn tại trong người cha của Paul Auster. Trong suốt mười lăm năm ông đã sống một mình trong một ngôi nhà cố định, miễn nhiễm với thế giới và không làm bất cứ điều gì để trang hoàng cho cuộc sống của chính mình. Ông sống và chết ở cùng một nơi. Một người xa lạ nhìn vào cuộc sống của ông, hay thậm chí là con trai mình đều không thể hiểu nổi sự bất cần và bất di bất dịch ấy. Anh đưa ra nhiều lý do để hiểu được cha mình, người đọc không biết liệu anh đúng được bao nhiêu. Nhưng về cơ bản, đằng sau giọng văn trơn tru mà Paul nói về người cha đã mất, như một người sống nói về kẻ đã chết, anh vẫn đang tìm kiếm một sự tường tận. Đó không chỉ là điều một đứa con nên làm với cha mẹ, mà đúng hơn là nên làm với chính bản thân mình. Bằng cách thấu hiểu người cha, anh cũng phần nào hiểu được chính mình. Như Paul Auster nói trong cuốn sách: Sự hiệp hòa khi chúng được nhìn vào cùng lúc là thay đổi tính chất hiện thực của mỗi sự kiện. Cũng như hai vật thể, khi đưa lại gần nhau, gây ra một thứ lực điện từ không chỉ ảnh hưởng đến cấu trúc phân tử của chúng mà ngay cả khoảng không gian giữa chúng nữa, vì thế hai (hay nhiều hơn) sự kiện hiệp hòa với nhau tạo ra mối liên kết trên thế giới, thêm vào một hay nhiều khớp nối để được chuyển qua hệ thống mênh mông của các trải nghiệm.

Những câu chuyện của người khác là cách dễ dàng nhất để chúng ta thấy được chính mình, bởi vì khi ấy ta nhìn thấy bản thân bằng một ánh nhìn khác. Vừa nhìn thấy mình một cách sâu sắc nhất, vừa nhìn thấy toàn diện nhất. Đó không phải là một điều mà người ngoài thấy được dù có cố gắng hiểu người khác khách quan đến mức nào. Sự cô độc của người cha phải chăng vì ông đã thiếu đi một câu chuyện để nhìn, hay không có câu chuyện nào giải quyết nỗi khổ của ông trọn vẹn nhất. Để ông thấy rằng ngoài kia còn tồn tại những con người với những mảng màu khác nhau, mà dù có không muốn thì ông cũng đã từng gắn bó với họ. Bằng kí ức và thực tại, ai cũng cần một người nào đó để làm người ngoài của chính mình, dù cả thế giới không hiểu ta thì ta cũng không thể phủ nhận rằng, nhờ họ mà ta có thể gắn kết với cuộc đời này, để cuộc đời cô độc của ta có thể mạnh mẽ tồn tại. Người cha không tìm kiếm điều đó, ông tưởng mình đã hiểu hết thảy và sống một cuộc sống tự giác nhất, nhưng… cũng mong manh nhất.


Paul Auster viết về kí ức với cái tên A.. Ẩn mình đằng sau kí tự của một ai khác. Quá khứ là một câu chuyện, khi không có thứ gì kể cho ta nghe, ta buộc phải tự mình kể chuyện. Mối quan hệ giữa một kẻ ở quá khứ và hiện tại, dù có rất xa lạ, thì cũng chỉ có một, ai cũng tạo nên hoàn cảnh vì một mục đích nào đó, và ai cũng cố để khiến tương lai tốt đẹp lên. Đó cũng là lý do khiến những người xung quanh đôi khi không thể hiểu ta là ai và muốn gì, vì họ không sống cùng ta trong quá khứ. Paul Auster viết về kí ức của mình như để bù đắp cho những gì người cha chưa làm được. Anh phải tự kể câu chuyện của mình, và sau này con trai anh sẽ chẳng phải lục lọi và xác tín mọi điều như anh đã từng. Hiểu được một nửa con người ở hiện tại đã khó khăn, hiểu được toàn bộ con người ở quá khứ càng mệt nhọc hơn.

Khởi sinh của cô độc còn là một cuốn sách của các mối quan hệ, giữa người với người, giữa suy nghĩ và suy nghĩ, đan xen vào những tự sự triền miên kí ức. Ta không biết có thể nhớ được bấy nhiêu, nhưng thế giới với những gì băng qua trước mắt, thật tuyệt khi được san sẻ cảnh vật với một ai đó. Có thể có nhiều điều sẽ thay đổi, không nhanh như cảnh vật lướt qua, nhưng chắc chắn hơn. Những mối liên kết bao gồm chút ít tình thương thì chẳng bao giờ mất.

28.7.13

Chẳng có nhà văn nào

Tôi muốn hỏi có nhà văn Việt Nam nào hiện giờ viết cho tuổi trẻ của bọn tôi. Ấy là tôi sợ mình thành ra ích kỷ, để chính xác hơn, tôi muốn hỏi có ai đó viết cho tuổi trẻ của tôi hoặc những đứa giống tôi chẳng hạn. Ai biết thì làm ơn chỉ giúp tôi có tác phẩm nào viết về một đứa thanh niên hai mốt tuổi, sống tại Sài Gòn, ngày lê lết giảng đường, tối về ngồi facebook, mộng tưởng tình yêu trong tương lai mờ mịt. Chẳng phải văn học sinh ra là để mô tả hiện thực đó sao. Trừ phi tôi không phải là hiện thực. Trừ phi tôi chỉ là một cái khe hẹp bị bệnh trái khoáy trong xã hội, thì tại sao chẳng có ai viết cả. Nghĩa là viết về những đứa trẻ hai mốt tuổi, mơ mộng rồi thất vọng giữa Sài Gòn này.

Thực sự là chẳng có ai viết về tụi tôi cả. Tụi tôi thì quan tâm làm quái gì tới chuyện đấu đá. Tôi sẽ thu hẹp phạm vi lại cho chính xác. Tôi chả quan tâm tới đấu đá mấy. Hồi trước tôi nghĩ mình quan tâm tới tình yêu. Nhưng dần dà, tôi biết mình quan tâm tới tình yêu cũng ít như quan tâm tới mấy chuyện tranh giành vớ vẩn kia vậy. Tôi cũng biết là có điều gì đó bất ổn. Để rộng hơn, tôi thấy điều bất ổn ấy trong khối người mà tôi gặp. Đơn cử là thằng bạn cùng chỗ trọ suốt ngày tụng kinh gõ mõ kia. Hoặc nó là Phật, hoặc là dứt khoát nó sợ gì đó nên mới thành ra thế. Mà đã sợ tức là có bất ổn.

Mà có bất ổn thì tại sao chẳng ai viết. Tôi nghĩ các nhà văn bị kẹt đường ở một khúc nào đó quanh Cách Mạng Tháng Tám hoặc khúc Tân Sơn Nhì - Trường Chinh. Nghĩ mà xem, họ bị kẹt xe ở chỗ đó và mọi ý tưởng sẽ trôi tuột đi mất. Tôi thích tưởng tượng về một thằng sinh viên bị kẹt đường rồi đến trường đâm chết một đứa bạn học. Đó không phải là một ý tưởng tồi nhỉ, tôi thấy nhiều người bị đâm chết kiểu này trên báo rồi. Chết rất vớ vẩn. Nhưng nhiều. Mà nhiều nghĩa là có bất ổn. Có bất ổn sao lại không ai viết. Tất nhiên cũng có nhiều tay nhà báo viết rồi. Nhưng tôi không tin các anh chị nhà báo lắm. Họ toàn nói lại những chuyện đã rồi. Họ không biết rằng bị kẹt xe nên tay sinh viên đó đâm chết bạn học. Chỉ có các nhà văn mới có thể hiểu rõ mà thôi.

Tôi rất thích Moon Palace của Auster. Ông này được cái nổi loạn tới bến trong quyển đó. Các quyển khác tôi không biết nhưng tôi nghĩ người ta sẽ khó mà quên đi cảm giác khác người đó lắm. Trong Moon Palace có cảnh tay Marco làm đủ chuyện điên khùng, suýt chết rồi được bạn cứu. Để trả công hắn cam tâm ngồi nhà dịch tài liệu coi như tự trừng phạt mình. Tôi không hiểu sao cha đó lại tự trừng phạt mình thế nếu như đã kiên quyết cho mấy chuyện mình làm là đúng. Cơ mà tôi thấy đồng cảm lắm. Vì tuổi trẻ của tôi cũng vậy. Ai mà giải thích được chuyện một cái cây nó lớn, nó gãy cành rồi nó lại lớn tiếp cơ chứ.

Có thể nhiều người đánh giá quá cao con người. Anh sinh ra, anh già, anh nghẻo. Trong quãng giữa sinh và nghẻo anh không cần biết tới một số thứ như hiện sinh hay hậu hiện đại, cũng không quan tâm mấy tới Triều Tiên có tên lửa hay Iran có vũ khí hạt nhân. Và anh vẫn sống tốt. Nhưng nhất quyết anh phải né được mấy vụ kẹt xe ra. Ý tôi là phải có nhà văn nào đó nói với anh rằng kẹt xe có thể dẫn đến đẫm máu. Và kẹt xe thì ảnh hưởng như thế nào đến một thằng nhóc hai mươi mốt tuổi. Tôi không nghĩ đó là chuyện không nghiêm túc ba lăng nhăng. Vì chẳng phải trên đời này nhiều chuyện không nghiêm túc cũng cần được giải đáp một cách nghiêm túc hay sao.

Trong khi chờ đủ hai mốt tuổi và Sài Gòn cũng như những bơ vơ ki cóp tủn mủn kia, tôi có thể đọc sách của Hesse. Và tiếc vẫn chẳng có nhà văn Việt Nam nào thực sự viết về một thằng mình như tôi. Hoặc giả có thể coi đó là một điều đáng tiếc.

[Update lúc 2 giờ 4 phút] NHT có một cuốn tôi đọc thấy cũng khá nhộn. Nhưng kết thúc thì lấy của Daniel Defoe rồi sửa lại nên tôi không thích lắm.

11.7.13

Đọc Moon Palace - Paul Auster

Mặt trăng trên sa mạc Utah (nguồn internet)
Sự dễ chịu trong hành động đọc đôi khi nằm ở chỗ mọi thứ dường như được đẩy tới giới hạn của nó. Những sự kiện lỡ dở trong cuộc sống sớm nhường chỗ cho những quyết định. Vài chuyện lấp lửng cũng trở nên chóng vánh và dứt khoát. Giống như nhân vật Marco Fogg trong Moon Palace (Paul Auster – dịch giả: Cao Việt Dũng, Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn ấn hành) nhanh chóng “biến cuộc đời mình thành một tác phẩm nghệ thuật, bằng cách tự hiến mình cho cái nghịch lý tối hảo” (tr.41). Nghĩa là cậu chàng dứt khoát “không hề động tay vào việc gì” (tr.40), lay lắt mỗi ngày bằng hai quả trứng và ngồi chờ “thưởng thức kết cục” (tr.41) của chính mình.

Paul Auster viết Moon Palace đan xen từ ba câu chuyện có kết cấu rõ ràng. Không khó để ta nắm bắt các tình tiết vốn đã hấp dẫn và cuốn hút. Đó là câu chuyện về cậu chàng Marco Fogg kỳ quái thực hành “thứ chủ nghĩa hư vô được nâng lên tầm một định đề mỹ học” (tr.41), bằng cách cố gắng sống mà không phải kiếm tiền. Đó là cuộc đời của tay họa sĩ già Thomas Effing chìm nổi trong những sự kiện hư thực lẫn lộn, với sa mạc, hang đá, những tên cướp và nỗi cô độc. Hay là thân hình phì nộn, cái đầu hói của Solomon Barber với những ám ảnh về người cha đã khuất khắc họa trong câu chuyện mang tên Máu của Kepler.

Những mảnh ghép trôi nổi, dòng sự kiện diễn ra giữa ba nhân vật chính trên được giải đáp bằng sự ngẫu nhiên của cuộc đời họ. Marco đến với Effing sau khi suýt đầu hàng thần chết trong mưa lạnh giữa công viên trung tâm New York. Còn Marco gặp Solomon sau cái chết của Effing, cũng chính là cha của Solomon. Cuộc đời con người có được bao nhiêu lần ngẫu nhiên như thế. Paul Auster dường như thích những mối dây liên kết. Và không có gì hợp lý bằng liên kết các nhân vật, chi tiết, cuộc đời và mọi thứ giữa họ lại với nhau bằng những tình cờ. Như chính Marco trong đợt khám tuyển lính đã tuyên bố “Cuộc đời của chúng ta được qui định bởi vô vàn sự tình cờ” (tr. 131)

Moon Palace là dung hòa của vô số chi tiết tuyệt đối đặc biệt. Nhưng những con nhân vật của Moon Palace đều phát triển theo chiều hướng chung: cô độc và khát khao tự thân tồn tại. Vì cô độc giữa thế giới nên buộc phải quay lưng lại mọi thứ. Và vì chòng chành trong những mối dây liên kết lỏng lẻo, họ buộc phải khẳng định cuộc sống của mình theo một cách khác. Với Marco là việc ngồi một chỗ bán dần từng cuốn sách của ông bác Victor và sống lần hồi, với Effing là chuyến đi từ bỏ thế giới, là hành động thay tên đổi họ sau những tháng ngày ẩn giật. Còn đối với Solomon là tập cách sống không cần nhìn mặt mọi thứ trên đời dù ở ông chẳng có chút nào gọi là kiêu hãnh lẫn tự phụ. Tất cả cuộc sống đối với họ, kể cả những nhân vật phụ như bác Victor, Kitti, Emily – mẹ của Marco có vẻ chỉ là một trò may rủi bất tận, kéo dài không dứt từ thế hệ này sang thế hệ khác. Họ dù già hay trẻ, dù khoảng cách thế hệ có bao nhiêu, vẫn muốn “buông mình vào sự hỗn độn của vũ trụ” (tr. 132) để có thể tìm thấy “một sự hài hòa bí mật nào đó” (tr 132)

Moon Palace còn là câu chuyện của những hoang mang, đánh đổi và trả giá. Bên trong Moon Palace, người ta có quyền sống theo những cách thật đặc biệt. Song le, không có nghĩa là họ có thể chối bỏ mọi hậu quả bên ngoài lẫn bên trong tâm hồn mình. Marco đánh đổi cho “thứ chủ nghĩa hư vô” đó của mình bằng cách chịu đói khát, lạnh lẽo trong công viên như một kẻ vô gia cư. Effing trả giá bằng một cuộc sống tật nguyền, bằng cách phân phát hết số tiền mà ông cho rằng mình đã lấy từ những người khác. Và từ thế hệ này sang thế hệ khác, họ lần lượt lượt mắc những sai lầm giống nhau. Effing từ bỏ đứa con để bắt đầu một cuộc sống khác. Solomon vô tình không biết mình còn một người con. Đến Marco, cố gắng để giữ lại cái thai trong bụng Kitti, cuối cùng đã mất đi tình yêu của mình.

Trong Điệu valse giã từ của Milan Kundera, nhân vật Jakub luôn có bên mình một viên thuốc độc màu xanh. Với nó, ông có thể kết thúc cuộc sống bất kỳ lúc nào. Và bằng cách đó cắt đứt đi tất cả các mối dây tồn tại của mình với thế giới. Cũng với cách tư duy như thế, một ý muốn tự thân khiến Effing quyết định ngày giờ chết của mình. Song ông không dùng thuốc độc, ông cố gắng bị ốm, cố gắng  cho đến ngày đã định và cố gắng chết một cách tự nhiên. Đó không phải thứ cố gắng của “chủ nghĩa hư vô”. Effing vẫn muốn nối mối dây cuối cùng với tự nhiên. Và thông qua đó có lẽ ông muốn khẳng định lần cuối ý chí sống, khát khao hòa nhập vào một điều gì đó to lớn và có sức ràng buộc hơn là một đời người.

Paul Auster dường như đi đến rất gần văn hóa phương Đông với những đan xen chằng chịt từ thế hệ này sang thế hệ khác, với quan niệm của ông về cuộc đời, về dấn thân và những trả giá. Paul Auster nhìn mỗi sự kiện như một thắt nút mở ra nhiều sự kiện khác với nhiều điều bất ngờ không đoán định được. Tác phẩm của ông - Moon Palace giống như một sự mỉa mai thứ chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối muốn phủ nhận những liên hệ giữa người với người. Chúng ta có thể cô đơn giữa cuộc đời, song bản chất cuộc đời luôn có những ràng buộc cố hữu không lay chuyển được. Có lẽ bởi vì mặt trăng mà mỗi ngày chúng ta ngắm nhìn vẫn tồn tại. Mặt trăng như trong một cuốn sách khác Red Notebook, Paul Auster đã nói “là tất cả trong một, nó là một chuẩn mực. Đó là mặt trăng như một huyền thoại…, trí tưởng tượng, tình yêu và sự điên rồ”